chiêu thức bán hàng hiện đại

chiêu thức bán hàng

chia sẻ

INTERNET ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO TỚI TRI NHỚ CỦA CHÚNG TA?

Internet tác động như thế nào lên đầu óc con người 

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả Kyle Chayka

Mỗi buổi sáng tôi thức dậy và kiểm tra điện thoại, tôi thường nhận được một vài “lời nhắc nhở”. Facebook thì cho tôi biết tôi có những ”ký ức” mới với bạn bè qua tính năng “On This Day” – đó có thể là kỉ niệm lần đầu tôi gặp bất kỳ một người nào hay chỉ là hình ảnh về một bữa tiệc vô chừng nào đó trong quá khứ. Vài tiếng sau, Google lại cho tôi biết rằng hôm nay là sinh nhật mẹ tôi, đồng thời cũng tự đính tôi vào một vài tấm hình tôi chụp cùng với bạn bè tối qua. Bất chợt, tin báo Facebook hie5n lên nhắc tôi về sự kiện tối nay tôi cần tham dự. Tôi chẳng biết rằng liệu công nghệ đang khiến tôi mất dần trí nhớ hay nó đang mang lại quá nhiều ký ức cho tôi.

Trên Tumblr có một trang mục tên Kiến thức giả, nó được định nghĩa là “những thông tin môt người không biết nhưng vẫn có thể tiếp cân khi cần thông qua công nghệ.” Internet, đặc biệt là truyền thông xã hội, đã đem đến cho chúng ta một không gian lưu trữ ký ức theo cách mà trước đây khó thể nào tưởng tượng được – thay vì phải tự nhớ lại, chúng ta không những có thể lên google tìm kiếm dân số của một quốc gia hay địa điểm của một quán ăn đã từng tới, chúng ta còn có thể dùng Facebook hay Twitter để quản lý những mối quan hệ của mình, đó là chưa nhắc đến khả năng vạch sẵn kế hoạch cho cả cuộc đời của chúng ta.
Những kiến thức giả này trông có vẻ khá đáng sợ vì thực chất chúng ta không quản lý chúng. Đôi khi có cảm giác như các mạng truyền thông đã thay thế bộ não của chúng ta, chúng chi phối lịch trình của chúng ta với những tin nhắn nhắc nhở và khiến chúng ta nhớ lại những sự kiện mà chúng ta thậm chí đã cố quên đi – những cuộc chia ly hay tang chế trong gia đình. Như vậy, ký ức của chúng ta đang nằm trong tay những thuật toán vô hồn, vô cảm đang bí mật định hình cuộc sống của mỗi người. May thay, ảnh hưởng của internet lên não bộ của chúng ta lại không đáng sợ đến mức đó.
Thật sự là chúng ta đang phải tự ghi nhớ những thông tin ngẫu nhiên ít hơn các thế hệ trong quá khứ. Tuy nhiên, chúng ta tập trung nhiều hơn vào việc ghi nhớ điều khác – cách thức trích xuất thông tin. Một nghiên cứu do ĐH Columbia thực hiện năm 2011 cho thấy, “khi phải đối mặt với những câu hỏi khó, con người thường nghĩ tới máy tính… khi chúng ta mong muốn tiếp cận với một thông tin nào đó trong tương lai, chúng ta thường ít nhớ lại bản thân thông tin mà sẽ tìm kiếm nơi ta có thể tiếp cận thông tin đó.” 

Nói cách khác, có thể việc ghi nhớ số dân của Hoa Kỳ không quá quan trọng nhưng biết được chỗ nào cho ta biết thông tin đó lại trở nên khá cần thiết (điều này tương tự với việc ghi nhớ ngày sinh của người thân trong gia đình). Trong một nghiên cứu với các thông tin được lưu trữ trong hệ thống tệp hồ sơ để trong máy tính, những nghiệm thể “được cho biết họ có thể tìm lại thông tin thường không ghi nhớ các chi tiết, thay vào đó, họ ghi nhớ màu sắc của các tệp hồ sơ,” Tracy Packiam Alloway, nhà tâm lý và là cựu giám độc của Trung tâm Trí nhớ và Học tập suốt đời Vương quốc Anh cho biết.

Bà cho biết, có những phê bình cho rằng việc dựa vào truyền thông xã hội sẽ khiến chúng ta “mất khả năng lưu giữ mọi thứ”. Thực chất, điều này lại hoàn toàn trái ngược – Internet “giải phóng tài nguyên của não bộ”, thay vì cố gắng ghi nhớ thông tin, chúng ta lại có thể chủ động tiếp cận nhiều hơn. Truyền thông xã hội tăng cường khả năng chắt lọc những thông tin có liên quan đến chúng ta, điều này diễn ra thông qua việc lựa chọn những đoạn tweet vui hay quan trọng giữa hằng hà sa số các tin tức mới xuất hiện.

Trong một nghiên cứu khác, Alloway cho các học sinh cấp 3 thực hiện một bài trắc nghiệm đã được chuẩn hóa. Trong đó, một số bạn chỉ mới dùng Facebook dưới sáu tháng còn một vài bạn khác đã dùng Facebook một thời gian dài. Alloway cho biết “Những bạn học sinh dùng Facebook lâu hơn có trí nhớ làm việc tốt hơn, các bạn cũng có kỹ năng ngôn từ, từ vựng và ngôn ngữ tốt hơn.” Thay vì phá hoại tâm trí, có vẻ Facebook đã giúp các bạn luyện tập việc quyết định đâu là những điều cần chú ý và đâu là những việc cần quên đi. Tuy nhiên, theo kết quả, sử dụng Youtube lại không giúp được gì cho các bạn học sinh do nó quá thụ động. Alloway cho rằng “nó không đem lại cùng một kiểu thông tin”

Chúng ta cũng thường dễ có cảm giác truyền thông xã hội gây ra “bão” thông tin. Chúng ta không thể làm việc với những thông tin đó theo cùng cách chúng ta tiếp cận với sách giấy hay những cuộc đối thoại diễn ra với bạn bè trong quán café. “Bạn sẽ không còn cảm nhận những ký ức tương tác sống động, trí nhớ của bạn đã lưu trú trên internet”, nhà tâm lý phát triển thuộc ĐH New York, Niobe Way, cho biết. “Đó là những trải nghiệm thụ động hơn rất nhiều. Những gì chúng ta biết về trí nhớ hiện này là ký ức càng thụ động bao nhiêu thì chúng ta càng dễ quên lãng bấy nhiêu.” Tuy vậy, thực ra truyền thông xã hội lài cực kỳ dễ nhớ.

Một thực nghiệm vào năm 2013 cho thấy các nghiệm thể có thể nhớ những bài đăng trên Facebook của bạn bè nhanh hơn và lâu hơn những câu chữ trong sách, ngay cả khi chúng được viết bằng ngôn ngữ internet. Báo cáo viết, “Khác biệt không nằm ở chỗ các bài đăng có chứa các ký hiệu cảm xúc, các kí tự đặc biệt hay chữ nhiều hay ít; kết quả vẫn tương tự khi tất cả những thứ đó đã được loại trừ”. Không những thế, Facebook còn giúp chúng ta ghi nhớ gương mặt người khác tốt hơn. “Có thể các bài đăng một cách tự nhiên khiến chúng ta có tư duy xã hội, dẫn tới việc mã hóa ghi nhớ các bài đăng một cách mạnh mẽ hơn…”

Tuy vậy, việc dễ dàng ghi nhớ các ký ức qua mạng truyền thông có thể khiến sự thật bị bóp méo. Mạng xã hội có khả năng “ảnh hưởng tới sự gắn kết giữa cuộc sống thực tế và ký ức” TS Richard Sherry, thành viên sáng lập Hội Phân tâm học Thần kinh cho biết. Do chúng ta có khả năng gợi nhớ lại một cách quá dễ dàng, những thông tin ta chọn để lưu trữ trên internet và mạng xã hội, thay vì làm sáng tỏ, sẽ có xu hướng làm nhiễu các ký ức của chúng ta. Thậm chí một nghiên cứu còn cho thấy, chỉ cần vài lần lặp lại, trí nhớ có thể bị bóp méo một cách nghiêm trọng.

Điều này có nghĩa là tất cả những thứ mà Google hay Facebook liên tục nhắc bạn sẽ trở thành những điều mà bạn ghi nhớ, đây có lẽ là phần đáng sợ nhất. Hãy điều chỉnh một cách có chọn lọc những thông tin trên mạng xã hội của bạn! Điều này sẽ giúp bạn hạnh phúc hơn trong tương lai.

Dịch: Hành Lang Tâm Lý


9 CÁCH CẢI THIỆN MỐI QUAN HỆ CỦA BẠN TRONG NĂM MỚI

Làm sao để mối quan hệ phát triển?
22/12/2015
Không chỉ loanh quanh các mục tiêu ăn kiêng hay giữ dáng, Năm Mới còn là cơ hội để bạn xem xét lại tình trạng mối quan hệ tình cảm của mình. Liệu mọi việc có trở nên tốt đẹp hơn? Mối quan hệ của cả hai liệu có thể vững vàng và hạnh phúc hơn? Bạn có thể làm gì để cải thiện mọi việc? Mục tiêu nào cũng đòi hỏi sự cố gắng, vậy đây rất có thể là lúc để bạn liệt kê ra đâu là những điều bạn sẽ làm để mối quan hệ của bạn được cải thiện theo chiều hường tích cực nhất. Khi nghĩ về những ưu tiên, bạn hãy cân nhắc những ý tưởng sau đây – và hãy cố gắng tập trung vào những gì bạn có thể tự mình làm hay những gì cả hai có thể cùng nhau làm. Bạn không thể thay đổi người bạn của mình, thay vào đó hãy chú ý thay đổi những tác động của bạn vào mối quan hệ, thay đổi cách bạn phản ứng và đáp trả.
1.    Ngưng tranh cãi về tiền bạc. 
Bạn và người yêu/ vợ/ chồng có bao giờ tranh cãi về tiền bạc chưa? Hãy giải quyết theo một cách mới. Nghiên cứu trên các cặp vợ chồng cho thấy bất đồng về tiền bạc có thể dự đoán khả năng li dị. Vấn đề không nằm ở chỗ hai bên giỏi đến đâu mà nằm ở mức độ hiếu chiến hai bên đặt vào cuộc tranh luận (Dew, Britt, & Huston, 2012).
2.    Thực hiện những cử chỉ thể hiện sự quan tâm.
Chỉ cần một nỗ lực nhỏ cũng đủ giúp cải thiện mối quan hệ đến không ngờ. Nghiên cứu cho thấy những cử chỉ thể hiện sự quan tâm sẽ khiến người còn lại cảm thấy trân trọng. Giữa vợ chồng, chính sự biết ơn đó giúp dự đoán mức độ hài lòng, cảm giác nối kết vào ngày tiếp theo của cả người cho và người nhận (Algoe et al., 2012). Kết quả này cho thấy “quan tâm hơn” là một quyết tâm đúng đắn, tốt đẹp và chu đáo cho Nam Mới. 
3.    Lao động cho chinh mối quan hệ của bạn. 
Bạn có thể tự dọn phòng, đi rửa xe hay đi “chăm sóc sắc đẹp” cho bản thân, nhưng bạn đã làm gì để duy trì “súc khỏe” cho mối quan hệ của mình? Nghiên cứu cho thấy các cặp đôi sẽ gặp khó khăn nếu họ không thực hiện các hành vi giúp duy trì mối quan hệ. Năm nay, hãy cố gắng làm việc này, vì chính việc tham gia tích cực, đem lại sự bảo đảm cho mối quan hệ và chia sẻ công việc là những yếu tố giúp dự đoán sự yêu thích, hài lòng và cam kết trong tương quan giữa hai người (Stafford & Canary, 1991).
4.    Hãy nói chuyện (và lắng nghe) nhiều hơn.
Dành thời gian để trò chuyện không phải là điều dễ dàng -  chúng ta lúc nào cũng bận rộn! Tuy nhiên, minh chứng cho thấy, nó hoàn toàn xứng đáng với công sức chúng ta bỏ ra. Những người có thể chia sẻ cảm xúc của mình đồng thời có người kia biết cách lắng nghe thường có mức độ hài lòng cao về mối quan hệ của mình (Hendrick, 1981). Cải thiện kĩ năng giao tiếp cũng rất quan trọng: Các cặp vợ chống có thể trò chuyện với nhau một cách xây dựng về những chủ đề khó khăn cũng thường cảm thấy thỏa mãn về mối quan hệ (Litzinger & Gordon, 2005). Có thể quyết tâm năm nay của bạn sẽ là lên thời gian và trò chuyện thật sự với người bạn của mình? 
5.    Thiền. 
Thiền hay yoga không chỉ có lợi cho huyết áp và sự tịnh tâm của bạn. Mindfulness là một chỉ báo hữu hiệu cho mức độ hài lòng trong các mối quan hệ, có lẽ lý do là sự tập trung có thể khiến chúng ta cảm nhận được cảm giác an toàn sâu sắc hơn (Jones, Welton, Oliver, & Thornburn, 2011). Luyện tập mindfulness trong mối quan hệ của bạn đồng thời sống với thực tại có lẽ là những cách hữu hiệu để giúp mối quan hệ của các bạn thăng hoa.
6.    Thử làm những điều mới mẻ. 
Nếu bạn đã quen người yêu được một thời gian dài, đừng nghĩ rằng bạn sẽ cảm thấy nhàm chán với mối quan hệ của mình. Những cặp vợ chòng lâu năm vẫn có thể gia tăng đam mê và sự hài lòng bằng cách thử làm những điều mới mẻ và đầy hứng thú cùng nhau (Aron et al., 2000). Hãy thử nghĩ đến việc cùng nhau đi du lịch đến những địa điểm mới, đăng ký cùng tham gia các khóa học nấu ăn hay làm người kia bất ngờ bằng việc cùng tham gia những trò chơi cảm giác mạnh. Khi cả hay cùng tham gia vào hoạt động mới mẻ, hào hứng, trải nghiệm có thể sẽ giúp nâng tầm chất lượng mối quan hệ - đó cũng là một quyết tâm khá thú vị cho năm nay, phải khộng?
7.    Cất điện thoại đi!
Điện thoại có làm bạn xao nhãng hay không? Email hay tin nhắn có “cướp” mất bạn ngay cả khi bạn đang đi với người yêu hay không? Các nhà nghiên cứu thậm chí còn có một thuật ngữ để mô tả hiện tượng này: pphubbing – phone nubbing, phớt lờ người khác vì điện thoại (Roberts & David, 2016). Khi việc sử dụng điện thoại đạt đến mức độ gây ra mâu thuẫn trong mối quan hệ, nó là chỉ báo cho một mối quan hệ có mức độ hài lòng thấp, sau cùng nó sẽ dẫn đến trầm cảm. Năm nay hãy làm cho người yêu của bạn một điều – đừng pphubbing nữa nhé!
 
8.    Hãy cầu nguyện cho người bạn yêu mến. 
Đối với một số người, cầu nguyện là một hoạt động thường nhật. Tuy nhên, trước đây có rất ít nghiên cứu về những tác động tích cực của hành động này lên mối quan hệ tình cảm. Mới đây, một minh chứng mới vừa cho thấy những hiệu quả tích cực của việc cầu nguyện riêng đặc biệt cho người mình yêu mến. Những người làm điều này thường có mức độ hài lòng về mối quan hệ và tính cam kết cao hơn (Fincham & Beach, 2014). Như vậy, cầu nguyện cho người kia cũng là một quyết tâm giúp canh tân mối quan hệ của hai bạn trong năm mới này.
 
9.    Cười nhiều hơn trước! 
Nghiên cứu mới đây cho thấy những cặp vợ chồng hay cùng nhau vui cười thường có một mối quan hệ “khỏe mạnh” hơn. Lượng thời gian cả hai cùng vui cười với nhau sẽ giúp dự đoán chất lượng mối quan hệ, sự hỗ trợ về mặt xã hội và mức độ thân mật (Kurtz & Algoe, 2015), những yếu tố này là rất quan trọng để có được những tương quan lành mạnh và hạnh phúc. Trong năm nay, bạn có thể nghĩ đến việc tập trung cùng nhau tìm kiếm những trải nghiệm vui vẻ và cho phép cả hai cùng vui cười thoải mái.
Tài liệu tham khảo
·         Algoe, S. B., Gable, S. L., & Maisel, N. C. (2010). It's the little things: Everyday gratitude as a booster shot for romantic relationships. Personal Relationships, 17, 217-233.
·         Aron, A., Norman, C. C., Aron, E. N., McKenna, C., & Heyman, R. E. (2000). Couples' shared participation in novel and arousing activities and experienced relationship quality. Journal of Personality and Social Psychology, 78, 273-284.
·         Dew, J., Britt, S., & Huston, S. (2012). Examining the relationship between financial issues and divorce. Family Relations, 61, 615-628.
·         Fincham, F. D., & Beach, S. R. (2014). I say a little prayer for you: Praying for partner increases commitment in romantic relationships. Journal of Family Psychology, 28, 587-593.
·         Hendrick, S. S. (1981). Self-disclosure and marital satisfaction. Journal of Personality and Social Psychology, 40, 1150-1159.
·         Jones, K. C., Welton, S. R., Oliver, T. C., & Thorburn, J. W. (2011). Mindfulness, spousal attachment, and marital satisfaction: A mediated model. The Family Journal,357-361.
·         Kurtz, Laura E., and Sara B. Algoe. Putting laughter in context: Shared laughter as behavioral indicator of relationship wellbeing. Personal Relationships, 22, 573-590.
·         Litzinger, S., & Gordon, K. C. (2005). Exploring relationships among communication, sexual satisfaction, and marital satisfaction. Journal of Sex & Marital Therapy, 31, 409-424.
·         Roberts, J. A., & David, M. E. (2016). My life has become a major distraction from my cell phone: Partner phubbing and relationship satisfaction among romantic partners. Computers in Human Behavior, 54, 134-141.
·         Stafford, L., & Canary, D. J. (1991). Maintenance strategies and romantic relationship type, gender and relational characteristics. Journal of Social and Personal relationships, 8, 217-242.


Dịch: Hành Lang Tâm Lý

SUY NGHĨ VỀ CÁI CHẾT KHIẾN CHÚNG TA TRÂN TRỌNG TƯƠNG LAI HƠN


ERIC W. DOLAN 12/12/2015

Nghiên cứu vừa cho thấy suy nghĩ về chi chết có thể khiến con người trân trọng tương lai hơn - ít nhất là với vấn đề tiền bạc.

“Cái chết là lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự không chắc chắn của tương lai, vì vậy, việc cho rằng suy tư về tính hữu hạn của bản thân sẽ khiến cá nhân trân trọng hiện tại hơn tương lai là hoàn toàn hợp lý” Nicholas J. Kelley và Brandon J. Schmeichel viết trong nghiên cứu.

“Mặt khác, chúng ta cũng lên kế hoạch và thường cố gắng đạt đến những mục tiêu mà chúng chỉ có thể được hiện thực hoá trong tương lai. Những mục tiêu tương lai đó khiến hiện tại trở nên có ý nghĩa và có tác dụng phòng vệ về mặt tâm lý cho chúng ta trước sự đe doạ của cái chết. Dưới góc nhìn này, có vẻ như việc nhắc nhớ một người về cái chết sẽ giúp họ trân trọng tương lai hơn - một tài sản quý giá mà số lương lại rất hạn chế.”  

Trong nghiên cứu được đăng tải trên PLOS One, nhóm nghiên cứu đã yêu cầu 118 sinh viên viết suy nghĩ của họ về cái chết của bản thân hoặc viết về sự đau đớn khi nhổ răng.

Sau đó các nghiệm thể được hỏi liệu họ muốn nhận $50 ngay lập tức hay sẽ đợi 3 tháng để nhận một khoản tiền lớn hơn. Nếu họ lựa chọn phương án thứ hai, tiền thưởng sẽ tăng dần $5, mỗi tháng lên tối đa là $100, điều này cho phép các nhà nghiên cứu biết khi nào thì người tham gia thay đổi quyết định, muốn nhận tiền ngay thay vì chờ đợi.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy, các nghiệm thể được yêu cầu viết về cái chết của bản thân thường ít đánh giá cao phần thưởng ngay lặp tức hơn so với những người làm nhiệm vụ còn lại. Nhóm đầu tiên thường ít quan tâm đến việc so sánh lợi nhuận hiện tại so với tương lai, chứng tỏ họ quan tâm đến tương lai nhiều hơn.

Theo Kelley và Schmeichel, suy nghĩ về cái chết “có thể làm tăng giá trị của tương lai, giúp kích hoạt việc theo đuổi các mục tiêu lành mạnh và tập trung vào dài hạn.”

Khi cái chết không nằm trong phạm vi tập trung chú ý của nhận thức, chúng ta thường dễ đưa ra những quyết định vị kỉ và khó kiếm soát được bản thân.”


Dịch: Hành Lang Tâm Lý

LÀM GÌ KHI BẠN ĐAU BUỒN VÀ CÔ ĐƠN TRONG MÙA GIÁNG SINH?

Giáng Sinh cô độc
Mùa Giáng Sinh này không phải ai trong chúng ta cũng cảm thấy ấm áp và hạnh phúc, có những người sẽ phải đối mặt với mất mát và cô độc. Chúng ta thường chỉ gắn buồn đau với cái chết, tuy nhiên chúng ta còn có thể đau khổ vì những mất mát khác như:
  • Chia tay hay li dị
  • Chuyển nơi sinh sống
  • Tức giận hay không nói chuyện với gia đình
  • Cảm thấy mất liên kết và không được những người xung quanh chấp nhận
  • Những người thân yêu không còn là chính mình vì rối loạn tâm lý hay vì lạm dụng chất gây nghiện
  • Có người thân trong vòng lao lý hay phải điều trị tại bệnh viện
  • Phải xác định các giới hạn và quyết định không giành thời gian cho nhau
  • Có người thân qua đời
  • Mong chờ tình yêu
  • Người thân, con cái đi xa
Đôi khi bạn không lựa chọn cô đơn nhưng không phải ai cũng có gia đình, không phải ai cũng đủ tiền để về nhà và ch1ung ta đều có thể đánh mất những người thân yêu cách này hay cách khác.
Lại có những người không thể ở bên gia đình vì xung đột hay do những khổ đau họ đã phải chịu đựng. Thậm chí nếu bạn lựa chọn không quay về với gia đình, điều đó vẫn gây tổn thương cho bạn. Những mất mát vẫn hiện diện ở đó, rất thật.
Ngoài ra, cũng có những lúc, ngay cả khi ở bên bạn bè và người thân, bạn vẫn cảm thấy cô đơn.
Lời khuyên của chuyên gia giành cho bạn:
Nhận biết mất mát
Hãy cho phép bản thân được buồn bã và đau khổ. Hãy biểu hiện cảm xúc qua trò chuyện, viết lách hay qua các phương thức sáng tạo khác. Bạn không cần phải lúc nào cũng giả vờ hạnh phúc. Chân thật với cảm xúc của bản thân cũng rất cần thiết; hãy giành thời gian để buồn bã hay khóc thương nếu cần thiết.
Điều chỉnh kỳ vọng của bạn.
Cô đơn diễn ra rất mãnh liệt trong những ngày lễ vì bạn mong muốn mình được ở bên gia đình, vui chơi với bè bạn hay mừng giao thừa với người bạn yêu thương. Ký ức, cả xấu lẫn đẹp, về những mùa Giáng Sinh trong quá khứ cũng tác động đến kỳ vọng của chúng ta. Rất khó để xóa mờ những kỉ niệm xưa cũ và cảm giác hoài niệm về những ngày tươi đẹp đã qua. Đồng thời cũng rất khó giã từ những ước mong giành cho hiện tại. Những kì vọng không thực tế sẽ khiến bạn thêm buồn bã và giận dữ mà thôi. Dù việc chấp nhận thực tế sẽ rất khó khăn nhưng đó lại là giải pháp tích cực nhất giành cho bạn.

Đừng chết chìm trong nỗi cô đơn
Bạn cần phải cân bằng giữa việc nhận diện những cảm xúc đang có với các hoạt động giúp bạn thấy thoải mái hơn. Chính bạn là người có trách nhiệm với bản thân để khiến chính mình được an ủi. Hãy chăm sóc cho bản thân: ăn uống, nghỉ ngơi đầy đủ, đừng ngụp lặn trong rượu bia, hãy tập thể dục và tận hưởng khí trời. 
Thuốc giải cho cô độc chính là sự nối kết
Sợ hãi và ngượng ngùng là những nguyên nhân ngăn cản chúng ta tìm kiếm sự hỗ trợ. Chắc chắn bạn không phải là người duy nhất cảm thấy cô đơn hay đau buồn trong mùa Giáng Sinh này. Chia sẻ cho những người xung quanh về trải nghiệm của chính bạn là việc hoàn toàn bình thường. Nếu bạn không tìm kiếm sự hỗ trợ và kết nối, bạn vân sẽ tiếp tục cảm thấy cô độc mà thôi. Hãy nhớ rằng, mọi người không thể đoán được bạn suy nghĩ hay đang cần điều gì. Hãy mở lòng ra để được trợ giúp và đón nhận.
Bạn có thể tìm kiếm sự hỗ trợ thông qua nhiều hình thức:
  • Các nhóm hỗ trợ
  • Tôn giáo
  • Tình nguyện
  • Tham vấn Trị liệu
Hãy làm những điều bạn yêu thích
Bạn có thể cải thiện trạng thái của mình bằng cách làm những điều khiến bạn cảm thấy vui thích. Nếu bạn có thời gian nghỉ, hãy tận dụng nó! Hãy cân nhắc những sở thích hay thói quen bạn có. Cũng có thể hãy làm những việc đã lâu bạn chưa làm hay thử những điều mới mẻ nếu bạn không nhớ ra những điều bạn từng yêu thích.
Bạn không nhất thiết phải đơn độc vào Giáng Sinh. Bạn có nhiều lựa chọn và có những cách khác nhau giúp giảm bớt cô đơn và chữa lành những khổ đau.
Mong các bạn có được Mùa Giáng Sinh an lành nhất có thể!

Nguồn: http://blogs.psychcentral.com/imperfect/2015/12/how-to-cope-with-loneliness-and-grief-this-holiday-season/
Dịch: Hành Lang Tâm Lý

NỀN VĂN HÓA NÀO KIỂM SOÁT CẢM XÚC KHUÔN MẶT NHIỀU NHẤT?

Cảm xúc và khác biệt văn hóa
Theo một số nghiên cứu, người Nga đứng đầu bảng và xếp chót bảng là người Mỹ!
Đây chỉ là hai trong số nhiều kết quả nghiên cứu về sự khác biệt văn hóa trong các hành vi phi ngôn từ. Có lẽ một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất về khác biệt văn hóa là nghiên cứu về không gian giao tiếp liên cá nhân. Đàn ông Ả-rập ngồi gần nhau hơn đàn ông Hoa Kỳ. Người Indonesia tương tác gần gũi hơn người Úc. Người Ý thì nói chuyện gần nhau hơn Mỹ và Đức, người Colombia gần hơn người Puerto Rico. Dù có những khác biệt đó, vẫn tồn tại những điểm tương đồng rất thú vị.
Thực tế, một số hành vi phi ngôn từ sẽ ổn định xuyên suốt nhiều nền văn hóa (Matsumoto, 2006). Biểu lộ qua gương mặt là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, nhiều điểm tương đồng cũng như khác biệt về văn hóa đã được phát hiện.
Quy tắc văn hóa về việc biểu lộ
Sự khác biệt về biểu lộ gương mặt giữa các nền văn hóa được quy định trong các quy tắc. Chúng ta học những quy luật này từ những người xung quanh trong suốt tiến trình ta lớn lên. Mỗi nền văn hóa sẽ có một bộ quy tắc khác biệt.  

Một trong những khác biệt về quy tắc này được hình thành giữa các nền văn hóa mà chúng ta thường gọi là “tập thể” như Nhật bản và “cá nhân” như Hoa Kỳ. Các nền văn hóa tập thể thường tưởng thưởng cho hành vi “hội nhập”, tính đồng nhất và thuận hòa với người khác. Trong khi đó, các nền văn hóa cá nhân lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quyền tự chủ và quyền lực cá nhân. Các nghiên cứu cho thấy người thuộc nền văn hóa tập thể thường dùng nụ cười để “đeo mặt nạ” cho những cảm xúc tiêu cực – nhưng chỉ khi nào có sự hiện diện của người khác, chứ không như lúc họ ở một mình.
Kiểm soát cảm xúc của gương mặt
Các nghiên cứu mới đây vừa tìm hiểu về mức độ kiểm soát cảm xúc xuyên suốt nhiều nền văn hóa khác nhau (Matsumoto, 2006). Nhóm nghiên cứu phát hiện rằng người Nga là những người kiểm soát cảm xúc gương mặt nhiều nhất, sau đó là Nhật và Hàn Quốc. Ngược lại, người Mỹ ít kiểm soát cảm xúc qua khuôn mặt nhất.  Nghiên cứu trên cũng cho thấy nhiều khác biệt giữa hai giới. Đàn ông thường che đậy cảm xúc bất ngờ và sợ hãi trong khi phụ nữ cố gắng kiềm nén sự ghét bỏ, khinh bỉ và giận dữ cùng nhiều cảm xúc khác.

Tuy nhiên, không chỉ có những loại biểu hiện là khác nhau giữa các nền văn hóa, cách chúng ta diễn dịch những biểu hiện đó cũng có những điểm dị biệt. Ví dụ, về cường độ cảm xúc, nghiên cứu cho thấy người Châu Á thường đánh giá các cảm xúc được biểu lộ là ít mạnh mẽ hơn so với những người không thuộc Châu Á.
Như vậy, với những khác biệt trên, liệu việc ta đánh giá biểu lộ gương mặt của những người đến từ nền văn hóa khác còn chính xác hay không? Chúng ta có hay làm quá lên không? Một nghiên cứu gây nhiều tranh cãi mới đây cho thấy con người thường đánh giá cảm xúc gương mặt của những người trong cùng nền văn hóa chính xác hơn.
Nhìn chung, những hành vi phi ngôn từ giữa các nền văn hóa thường khá tương đồng. Tuy vậy, vẫn tồn tại nhiều khác biệt mà các nghiên cứu mới chỉ bước đầu tìm hiểu. Biểu lộ cảm xúc qua gương mặt chỉ mới là phần nổi của tảng băng mà thôi.

THƯA BÀ, CON BÀ CÓ RỐI LOẠN TÂM THẦN!

Giai đoạn loạn tâm
Tôi ngồi trong phòng trung tâm tham vấn tâm lý của trường đại học, khẽ thở dài và gọi cú điện thoại tôi chẳng hề mong muốn. Là một bác sĩ tâm thần cho sinh viên đại học đã 20 năm, công tác này đối với tôi chẳng bao giờ là dễ dàng. Sau vài ba hồi chuông, mẹ của một sinh viên tôi vừa gặp trong văn phòng vài phút trước nhấc máy trả lời.
Tôi tự giới thiệu bản thân và thông báo: “Tôi vừa phải cho con của bà, Jacob, nhập viện.”
Bà trả lời, “Ông nói gì vậy?” “Con trai tôi làm gì có vấn đề.”
Tôi giải thích rằng bạn cùng phòng của Jacob ngày hôm nay vừa đưa anh tới phòng tham vấn. Họ cho biết đã cả tuần nay anh ta không hề ngủ và cũng chẳng hề ăn uống.
“Tôi biết,” bà nói. “Họ cũng có gọi tôi. Con tôi chỉ đang phải thích nghi với trường lớp mà thôi. Nó mới học một tháng mà. Lạy Chúa, nó mới là sinh viên năm 1 thôi.”
Tôi thừa nhận rằng tân sinh viên phải trải qua một thời gian khá khó khăn để điều chỉnh. Tuy vậy, Jacob hiện đang trong giai đoạn loạn thần. Tôi nói với bà, anh ta không dám rời khỏi phòng tham vấn vì sợ rằng mình bị theo dõi khắp khuôn viên trường. Anh không thể làm việc vì có những giọng nói liên tục làm phiền và gây xao nhãng trong đầu anh. Tôi nói thêm, bệnh viện là nơi an toàn nhất với anh hiện giờ.
Bà vẫn quả quyết “Con trai tôi là học sinh xuất sắc hồi phổ thông. Nó còn thắng cả mấy cuộc thi tranh biện nữa.”
Tôi hiểu vì sao bà lại chối bỏ sự việc. Những đứa con của tôi cũng đang học đại học. Nếu một trong số chúng mà bị loạn tâm thì tôi cũng chẳng biết mình sẽ sốc đến mức độ nào. Bản thân tôi cũng sẽ nổi điên với người thông báo tin đó.
“Vậy ông có thể đợi tôi bay qua đó xem mọi việc ra sao không?” bà hỏi. “Tôi có thể mua vé máy bay trong vài ngày tới và sẽ gặp ông cùng với con tôi.”
Nơi mẹ Jacob sống cách trường đại học đến vài ngàn dặm. Jacob không có cha.
Tôi đồng ý rằng sẽ tốt hơn nếu bà, tôi và Jacob có thể cùng gặp nhau trong văn phòng. Tuy vậy, tôi vẫn nhấn mạnh rằng sẽ không an toàn cho Jacob nếu không bảo vệ anh ta trong suốt thời gian đợi bà đến đây. Jacob đang rất bối rối và sợ hãi đến mức tôi không dám chắc liệu anh ta có về nỗi ký túc xá hay không.
Lý tưởng nhất là sẽ có một nơi nào đó ngoài bệnh viện mà Jacob có thể nhận sự hỗ trợ, được động viên để ăn uống, ngủ nghỉ và uống thuốc trong lúc chờ mẹ đến. Nhưng khuôn viên trường hay thành phố của chúng tôi lại chẳng có một nơi như thế.
Tôi vừa làm việc với Jacob suốt hai giờ qua. Tôi còn gọi thêm một bác sĩ tâm thần khác để gặp và cho ý kiến về trường hợp của anh. Cô ta cũng đồng ý rằng Jacob cần nhận được sự trợ giúp về y tế ngay lập tức. Giá mà mẹ anh có thể nhìn thấy anh ngay lúc này, đầu tóc rối bù, mặc áo len dày dù bên ngoài đang 32 độ C, tránh né ánh mắt của mọi người và lẩm bẩm nói chuyện với những giọng nói mà chỉ mình anh nghe được.
“Vậy tôi phải làm gì bây giờ?” bà hỏi.
Tôi đề nghị bà lên máy bay càng sớm càng tốt và sẽ gặp Jacob cùng toàn bộ nhóm điều trị tại đơn vị nội trú ở bệnh viện. Tôi cũng nói là không biết anh ta phải ở lại bệnh viện bao lâu, có thể chỉ là một thời gian ngắn thôi.
Bà hỏi ngay “Sau đó nó sẽ đi học trở lại được, phải không?”.
Tôi nói rằng thông thường tôi sẽ đề nghị những bạn có giai đoạn loạn thần nghỉ một học kỳ, như vậy họ sẽ có đủ thời gian để hồi phục hoàn toàn.
“Không, nó sẽ đi học trở lại”, bà nhấn mạnh. Cuộc trò chuyện của chúng tôi cũng kết thúc ở đó.
Tôi đến gặp nhóm điều dưỡng trong trường để thông báo cho họ, phòng trường hợp bệnh viện hay mẹ của Jacob gọi tới. Có điều thật ra, tôi tìm họ để nói về cảm giác của mình, để chia sẽ câu chuyện với những người biết lắng nghe và đồng cảm, bao giờ trong tôi cũng có nỗi buồn và mất mát khi một người trẻ tuổi gặp phải tình trạng loạn thần.
Sau đó tôi về lại văn phòng. Jacob sẽ do tôi điều trị nên tôi cần phải chuẩn bị hồ sơ. Tôi sẽ gửi ghi chép tiến trình cho bệnh viện, trong đó ghi rõ lý do tôi đề nghị Jacob nhập viện. Tôi cũng gọi cho bác sĩ tâm thần trực tại đơn vị để bàn luận về trường hợp này; Tôi không muốn để lỡ vấn đề gì cả.
Sau đó tôi chờ đợi.
Vài ngày trôi qua, vẫn chẳng có thông tin gì từ bệnh viện. Tôi hi vọng rằng Jacob đã về nhà. Một vài người có giai đoạn loạn thần sẽ phục hồi rất nhanh nhưng một số khác thì phải mất vài tháng. Tình trạng của Jacob có thể tiến bộ dưới sự quan sát của cha mẹ để phát hiện những dấu hiệu tái phát một cách nhanh chóng. Cũng có thể anh ta chuyển sang học trường gần nhà mẹ anh cũng nên.
10 ngày sau khi tôi yêu cầu Jacob nhập viện, bệnh viện gọi điện cho tôi. Họ thông báo rằng Jacob đã đi học trở lại và muốn găp tôi.
Đương nhiên tôi sẽ gặp anh, dù khá thất vọng. Anh ta nên ở nhà hay ở đâu đó có hỗ trợ thường nhật, hoặc chí ra trong một chương trình điều trị ngoại trú chuyên sâu nào đấy. Đáng lẽ phải có những biện pháp điều trị trung cấp phù hợp sau khi bệnh nhân rời bệnh viện và các công ty bảo hiểm phải chi trả cho các khoản đó. Jacob cần nhận được nhiều sự trợ giúp hơn là chỉ những điều kiện trong khu vực trường học. Nhưng có lẽ chúng ta không có nhiều sự lựa chọn ở đây.
Tôi gặp lại anh vào buổi chiều hôm đó, mày râu nhẵn nhụi và cũng chẳng còn mùi hương đầy cảnh báo của một người cả tuần chưa tắm. Anh nhìn tôi, mỉm cười và bắt đầu nói với một cung giọng bình tĩnh.
“Tôi đã khá hơn nhiều rối”, anh nói. “Tôi đang cố gắng bắt kịp bài vở. Mẹ của tôi có nói chuyện với nhân viên công tác sinh viên trong phòng công tác sinh viên, họ có nói chuyện với các Thầy Cô của tôi. Có thể tôi phải nghỉ một lớp nhưng cứ đợi từ từ rồi xem sao.”
“Tôi mừng là anh đã thấy khỏe hơn”, tôi nói. “Anh có thể cho tôi biết mọi chuyện trong bệnh viện như thế nào không?”
Jacob trả lời, “Tôi chỉ ở đó bốn ngày, và mọi chuyện khá kì lạ. Tôi nghĩ rằng những loại thuốc họ đưa tôi uống khá hữu hiệu vì tôi có thể ngủ và tập trung tốt hơn.”
“Tôi biết rằng anh không vui khi tôi gửi anh qua bệnh viện”, tôi nói. “Anh có cảm thấy thoải mái khi làm việc với tôi không?”
“Có chứ”, anh nói. “Tôi biết tôi cần vào viện, mọi chuyện đã rối tung cả lên.”
Tôi khá tò mò vì khả năng đáp ứng hóa dược nhanh chóng của Jacob. Có hai khả năng ở đây. Một là sự căng thẳng do phải đi xa nhà và bắt đầu việc học khiến anh bị choáng ngợp, anh sẽ hoàn toàn phục hồi sau khi điều chỉnh được bản thân. Khả năng còn lại là anh vẫn còn những triệu chứng loạn thần nhưng lại muốn che giấu chúng để tiếp tục học. Tôi mong là anh thuộc trường hợp đầu tiên.
Tôi nói với Jacob là chúng tôi nên gặp nhau hàng tuần. Tôi cũng yêu cầu anh cho tôi biết bất cứ khi nào anh cảm thấy bối rối hay gặp khó khăn về giấc ngủ, như vậy chúng tôi có thể điều chỉnh thuốc cho anh khi cần thiết. Tôi giải thích thêm, nếu mọi chuyện tốt đẹp, anh ta cuối cùng cũng có thể ngưng dùng thuốc.
Sau giai đoạn loạn tâm đầu tiên, một số người sẽ hồi phục hoàn toàn và không cần uống thuốc dài hạn. Một số khác có thể cần tiếp tục uống thuốc vì có những rối loạn như rối loạn lưỡng cực hay tâm thần phân liệt.
Tôi muốn mình có thể giúp Jacob nhiều hơn, ví dụ như qua chương trình hỗ trợ đồng đẳng, trong đó anh ta có thể nhận được sự hỗ trợ từ những người đã có kinh nghiệm hay từng phục hồi sau giai đoạn loạn thần. Thật ra, một vài đồng nghiệp của tôi trong trường cũng đang phát triển một dự án tương tự cùng một số kế hoạch khác để hỗ trợ các sinh viên sau khi phải nhập viện.
Đồng thời, tôi tận dụng tối đa những nguồn lực mình đang có. Tôi chuyển Jacob qua một nhà trị trị liệu tâm lý. Jacob cũng đồng ý gặp nhân viên công tác sinh viên phụ trách trường hợp của anh. Cô ta sẽ giúp anh điều chỉnh lịch học khi cần thiết.
Mẹ của Jacob cũng bay đến thành phố vài ngày sau khi anh vào bệnh viện nhưng sau đó liền trở về nhà để chăm sóc con gái và quay lại làm việc. Bà nói chuyện với Jacob mỗi ngày. Anh cũng cho phép tôi gọi điện cho mẹ anh để nói về tình trạng của anh.
Tôi từng chứng kiến nhiều trường hợp khác nhau mà các bạn trẻ vướng phải giai đoạn loạn thần. Và bạn sẽ không thể quên được những trường hợp nghiêm trọng nhất.
Một trong số bệnh nhân của tôi có rối loạn lưỡng cực, đôi khi cô ấy lại tự quyết định ngưng dùng thuốc và rơi vào tình trạng loạn thân cùng hưng cảm. Tôi không thể thuyết phục cô việc tiếp tục điều trị là lựa chọn tốt nhất vì lợi ích của chính cô. Lần cuối cùng cô ngưng dùng thuốc, những giọng nói trong đầu cô đã bảo cô chạy vào giữa làn xe. Cô tông một lúc hàng loạt xe khác nhưng kì diệu thay, không ai bị thương nặng cả.
Sau đó, cha cô trở thành người bảo trợ pháp ý cho cô, ông sống với cô và đảm bảo rằng cô chịu uống thuốc. Cô ta quyết định ngưng học và tập trung điều trị. Lần thăm khám cuối cùng, cả hai cùng nhau đến gặp tôi và mang theo một chậu cây thay cho lời cảm ơn. Tôi cảm thấy rất xúc động vì điều đó.
Một bệnh nhân rối loạn lưỡng cực khác là một sinh viên trẻ học chuyên ngành tâm lý. Trước khi làm việc với tôi, cậu ta rơi vào tình trạng loạn thần và từng thử tự tử vài lần. Sau một tuần tại đơn vị chăm sóc đặc biệt, hai tuần trong bệnh viện tâm thần và cả một học kỳ nghỉ ở nhà, anh trở lại trường nhưng vẫn phải uống thuốc ổn định cảm xúc và chống loạn thần. Anh không còn các triệu chứng hung cảm hay loạn tâm khi tôi bắt đầu làm việc với anh, vậy nên tôi chỉ trị liệu cho anh mỗi tháng một lần.
Chúng tôi nói về những tình huống căng thẳng mà anh trải qua và những cách thức đối mặt với chúng. Tôi chưa bao giờ phải thay đổi liều lượng cho anh. Trong thực tế, anh cảm thấy thuốc hữu hiệu đến độ chẳng muốn giảm bớt liều lượng. Cuối cùng, tôi rất vui khi nhận được tin anh được nhận vào chương trình tiến sĩ về khoa học thần kinh.
Về phần Jacob, câu chuyện của anh cuối cùng sẽ ra sao? Tôi không biết. Tuy nhiên, tôi muốn Jacob và mẹ anh biết rằng hi vọng luôn tồn tại. Tôi chứng kiến điều đó diễn ra mỗi ngày.
Dịch: Hành Lang Tâm Lý


KHOẢNG CÁCH GIỮA CÔNG VIỆC VÀ ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN NGÀY CÀNG TRỞ NÊN MỜ NHẠT

Cân bằng cuộc sống và công việc

— APA Center for Organizational Excellence
4 trên 10 người lao động Mỹ (42%) cho biết họ bận tâm đến các nhu cầu cá nhân và gia đinh trong khi đang làm việc và khoảng ¼ chia sẻ rằng họ thường xuyên mang công việc về nhà (26%), làm việc trong các kỳ nghỉ (25%) và hay để công việc xen vào thời gian dành cho gia đình, bạn bè (25%). Những số liệu trên là kết quả của một khảo sát do Trung tâm Chất lượng Tổ chức của APA (Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ) thực hiện.

Khảo sát được thực hiện trực tuyến bởi đại diện của APA, Harris Poll từ ngày 14 – 16/07/2015, trên 902 người trưởng thành đang làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian. Báo cáo đầy đủ cho thấy  6 trên 10 người lao động Mỹ cho biết họ thường phản hồi những giao tiếp cá nhân trong giờ làm việc và gần 5/10 (48%) thường xuyên trả lời những thông tin liên quan đến công việc trong khoảng thời gian cá nhân

Mặc dù công nghệ hiện nay cho phép mở rộng ranh giới giữa thời gian làm việc và không làm việc, hầu hết người lao động Mỹ cho biết họ có thể kiểm soát ranh giới này và quyết định xem liệu có nên phân tách rõ ràng giữa 2 vấn đề này hay không. Họ cũng cho biết bản thân đầu tư rất nhiều thời gian cho cả hai vấn đề công việc (61%) và gia đình (72%)

51% những người lao động Hoa Kỳ cho biết cấp trên của họ đề xuất sự linh hoạt trong công việc,tuy nhiên chỉ chưa đến ½ trong số này cho rằng mình được lựa chọn linh hoạt về số giờ làm việc (43%), số ngày làm việc trong tuần (40%) và nơi làm việc (34%)

Thậm chí các nhân viên còn ít chạm đến các phúc lợi về lao động hơn, chỉ trên dưới ¼ sử dụng các phúc lợi này một hoặc vài lần trong tháng.

Mặc dù gặp phải những trộn lẫn giữa thời gian công việc và cá nhân cùng với việc không thường xuyên sử dụng các phúc lợi lao động, đa số người Mỹ vẫn kết hợp khá tốt đời sống công việc và cuộc sống cá nhân (5.3 trên thang 7)

“Bài học ở đây cho những người sử dụng lao động là trước việc rất nhiều nam giới và nữ giới đang phải đấu tranh để cân bằng đời sống công việc và cá nhân, chính khả năng sắp xếp công việc linh hoạt và làm chủ khả năng quản lý ranh giới công việc – cuộc sống là chìa khóa tối ưu để đạt được sự cân bằng.” theo David W. Ballard, người điều hành APA's Center for Organizational Excellence. “
“Người lao động có công việc phù hợp hài hòa với những phần còn lại của cuộc sống sẽ có sự cam kết và động lực lớn hơn, họ cho thấy mức độ hài lòng với công việc cao hơn, có mối quan hệ trong công việc tốt hơn và ít có xu hướng rời bỏ công ty trong năm tiếp theo hơn.

Khảo sát cũng cho thấy, trái với niềm tin thông thường, vấn đề về cân bằng công việc – cuộc sống và những vấn đề liên quan đến sự linh hoạt trong công việc không phải là câu hỏi giành riêng cho nữ giới. Nam giới cho thấy thường sử dụng những phúc lợi công việc-cuộc song thường xuyên hơn (mỗi tuần 1 lần trở lên), bao gồm các chế độ chăm sóc con cái, nghỉ phép cá nhân, lịch làm việc linh hoạt như số ngày làm việc trong tuần, nghỉ phép có lương và không lương


Hành Lang Tâm Lý lược dịch

 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google

Join us on Facebook

Please wait..5 SecondsCancel