chiêu thức bán hàng hiện đại

chiêu thức bán hàng

chia sẻ

TẠI SAO TRẺ LẠI BỊ “FROZEN” MÊ HOẶC

Tình chị em trong Frozen

Maryam Kia-Keating và Yalda T. Uhls 06/01/2015

Maryam Kia-Keating là phó giáo sư Tâm lý lâm sàng tại ĐH California, Santa Barbara.
Yalda T. Uhls là nhà nghiên cứu lâu năm tại Trung tâm Truyền thông Kỹ thuật số Trẻ em tại UCLA và là Giám đốc Khu vực của Công ty Truyền thông phi lợi nhuận Common Sense.

Khi bộ phim hoạt hình “Frozen” – Nữ hoàng băng giá – ra mắt năm 2014, không ai nghĩ rằng nó lại trở thành một hiện tượng toàn cầu. Thu về hơn 1,2 tỉ USD, “Frozen” không chỉ là bộ phim về các “công chúa” đầu tiên được lọt vào nhóm 10 phim hoạt hình có doanh thu lớn nhất, nó còn trở thành phim hoạt hình đứng đầu mọi thời đại.

Các bé gái từ lâu đã bị hình tượng công chúa mê hoặc, đây là một xu hướng được Peggy Orenstein ghi nhận trong bộ phim tài liệu Cinderella Ate My Daughter: Dispatches from the Front Lines of the New Girlie-Girl Culture vào năm 2011. Một vài thập kỷ trở lại đây, các nhân vật hoạt hình nữ chính đã trở nên phong phú và độc lập hơn, góp phần mở rộng sự yêu thích từ khán giả. Vào những năm 1990, Disney giới thiệu Jasmine (Aladdin) và Mulan (Mulan), những công chúa có đôi mắt đen, đến từ các nền văn hóa mới. Trong năm 2009, Disney cuối cùng cũng tạo ra một Công chúa người Mỹ với làn da nâu trong “Công chúa và Hoàng tử Ếch”. Trong tất cả các câu chuyện, hoàng tử vẫn có mặt nhưng các công chúa thường có vị thế tương đương.

Tuy vậy, một số khía cạnh của hình mẫu công chúa vẫn không thay đổi: Trẻ em vẫn vui thích không chỉ bởi bộ phim mà còn bởi trang phục và đồ chơi. Nhưng điều gì lại khiến “Frozen” trở nên nổi bật hơn những tác phẩm trước – và tại sao nó lại khiến các bé mê mẩn đến thế?
Trong vai trò là những nhà tâm lý (cũng có kinh nghiệm trong vai trò người chị, y như nhân vật chính trong phim) cũng như những người mẹ có con gái thích làm công chúa, chúng tôi quyết định tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.

Trước hết, thế giới cảm xúc của trẻ mẫu giáo chính là những hồi ức của đấu tranh nội tâm nơi nhân vật Elsa, vai chính của bộ phim: Cảm xúc của cô mạnh mẽ, mãnh liệt và dường như chẳng thể kiểm soát. Tương tự, trẻ mẫu giáo cũng bị chi phối bởi những xung năng. Khi Elsa cất tiếng hát rằng cô sợ “cơn bão bên trong chẳng thể có lối thoát”, nó chạm đến trái tim từng trẻ nhỏ (và có lẽ cả những cha mẹ với lòng kiên nhẫn đang bị thử thách).

Thứ hai, trí tưởng tượng của trẻ đạt ngưỡng cao nhất vào tuổi mẫu giáo, biến thế giới thành một nơi kỳ diệu ngập tràn những cơ hội phiêu lưu và kỳ thú. Trẻ sẽ hào hứng với những câu chuyện thấm nhuộm màu sắc thần tiên. Chính vì thế, Elsa – theo lời của con gái tác giả Maryam, là một “siêu nhân” với “sức mạnh băng giá” (hô biến tạo ra cả một lâu đài băng tuyết chỉ sử dụng những ngón tay của mình) – được trở nên yêu thích đặc biệt. Có lẽ vì quá thích thú với phép thuật và sức mạnh của Elsa mà trẻ ít chú ý tới những trải nghiệm cô đơn và tuyệt vọng nơi nhân vật chính khi cô bị khóa chặt trong phòng mình lúc bé và rồi tìm nơi trú ẩn trong tòa lâu đài xa xôi khi lớn. 

Tuy nhiên, đi kèm với sức quyến rũ của phép mầu và ý niệm mọi chuyện đều có thể trở thành hiện thực là nỗi sợ hãi. Con gái của Maryam đặc biệt thích việc không có phù thủy trong “Frozen”. Dù cũng say mê các bộ phim công chúa khác nhưng những nhân vật hình tượng phù thủy (như Gothel trong “Tangled”) lại có vẻ quá chân thực. Những đoạn gây sợ hãi trong “Frozen” đều rất ngắn và rất ít, đồng thời nhân vật phản diện là một chàng trai bình thường, lại còn biết hát một bài hát tình yêu khá vui tai.

Thứ ba, Elsa có một mối liên hệ rất mật thiết đến em gái của cô, Anna. Dù Elsa liên tục từ chối những cố gắng xây dựng tình thân nơi em mình xuyên suốt bộ phim, mối gắn kết của họ lại tô đậm sự hy sinh vì gia đình lên hết thảy. Trẻ mẫu giáo kết nối sâu sắc và thường thể hiện sự gắn bó mạnh mẽ với gia đình, nghĩa là các em yêu mến những thành viên nằm trong vòng tròn xã hội của mình. Ngay cả khi người xem “Frozen” mong mỏi Anna kết duyên với Kristoff, tình cảm chị em vẫn là điều nỗi bật hơn cả. Các nhân vật nữ chính trong “Frozen” đều chân thành và rất thực tế. Họ không còn suốt ngày tìm kiếm hoàng tử bạch mã của riêng mình. Ngược lại, lan truyền thông điệp về tình cảm chị em và sức mạnh của phái nữ.

Cuối cùng, âm nhạc điểm nét quyết định. Con gái 4 tuổi của tác giả cùng bạn bè rất thích hát giai điệu “Let it Go”, chỉ trỏ ngón tay mình qua lại lẫn nhau: “Be the good girl you always have to be!” (Hãy là bé gái ngoan, con phải luôn như thế). Rồi tất cả cùng hòa ca, vờ như mình là Elsa đang phù phép xây lâu đài từ bằng đá. Ngay cả bé trai 1 tuổi của Maryam cũng tham gia màn diễn, bắt chước động tác của các chị. Khi Maryam hỏi con gái nghĩ gì về bài hát, bé cười và nhận xét ngắn gọn: “Bài hát nói về việc Elsa tự do và hạnh phúc, không ai làm phiền chị ấy cả.”

Thật vậy, đây mới là mấu chốt của vấn đề: mong muốn cháy bỏng hạnh phúc và tự do của toàn nhân loại. Có lẽ việc hiểu được cách nhìn của trẻ mẫu giáo có thể giúp chúng ta lý giải được một số lý do khiến bộ phim này thu hút chúng ta: Tất cả chúng ta đều nhận thấy những đấu tranh nội tâm nơi các xung năng của mình. Không ai trong chúng ta thật sự mong gặp những kẻ (quá) phản diện trong đời thực. Đa phần con người đều trung thành với gia đình, mặc cho những biến động hay khó khăn về cảm xúc đôi khi ta phải đối diện. Và tất cả nhân loại đều mong ước hạnh phúc và tự do.




CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA TRẺ

giấc ngủ và học tập

Các bậc phụ huynh thường gặp khó khăn trong việc đảm bảo con mình ngủ đủ giấc, đặc biệt các bé trong tuổi đi học. Tuy vậy, một nghiên cứu mới được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại ĐH McGill và Viện ĐH Sức khỏe Tâm thần Douglas tại Montreal cho thấy những nỗ lực trên là rất đáng giá: các nhà nghiên cứu phát hiện rằng giấc ngủ ngon có liên hệ tới kết quả học tập toán và ngôn ngữ tốt hơn – những môn học được xem là chỉ báo hữu hiệu cho thành công học thuật sau này.

Trong các kết quả mới được xuất bản trong tạp chí Sleep Medicine, các nhà nghiên cứu cho biết “Hiệu năng ngủ” gắn liền với khả năng học thuật tốt hơn trong các môn học quan trọng trên. Thuật ngữ “hiệu năng ngủ” là thước đo chất lượng giấc ngủ, nó so sánh thời lượng ngủ thật sự với tổng thời gian nằm trên giường.

Trong khi những nghiên cứu khác nhắm đến việc liên kết giấc ngủ với khả năng học tập nói chung, các nhà khoa học ở Montreal lại kiểm định tác động của chất lượng giấc ngủ lên điểm số trong các môn học cụ thể. Kết quả: những trẻ có hiệu năng ngủ cao thường giỏi toán và ngôn ngữ hơn – tuy nhiên điểm số về khoa học và nghệ thuật vẫn không thay đổi.
Reut Gruber, nhà tâm lý lâm sàng trẻ em, chủ nhiệm nghiên cứu cho biết, “Chúng tôi tin rằng chức năng điều hành (các kỹ năng tinh thần, ví dụ, bao gồm lên kế hoạch, chú ý, đa nhiệm) là cơ chế tạo ra tác động của giấc ngủ lên kết quả học tập, những kỹ năng này đối với toán và ngôn ngữ cũng quan trọng hơn so với trong các môn khác.”

Thành tích học tập thấp là vấn đề nghiêm trọng và thường thấy ở trẻ, nó tác động 10 – 20% các trẻ. Gruber, nhà nghiên cứu tại Viện Douglas và là giáo sư tại Khoa Tâm thần, ĐH McGill, chia sẻ, “Thiếu ngủ hay giấc ngủ kém là nhân tố nguy cơ quan trọng dẫn đến khả năng học thuật kém nhưng lại thường xuyên bị bỏ quên.”

Nhóm nghiên cứu của Gruber, hợp tác với Ban Giám hiệu trường Riverside tại Saint-Hubert, Quebec, thực hiện trên 75 trẻ khỏe mạnh từ 7 đến 11 tuổi. Giấc ngủ của trẻ được giám sát bằng actigraphy, một thiết bị có dạng đồng hồ đeo tay nhằm đánh giá giấc ngủ bằng cách theo dõi chuyển động. 

Actigraph (vận động kế) và biểu đô ngủ

“Chúng tôi tính trung bình số liệu của 5 đêm nhằm thiết lập mô hình thói quen ngủ của trẻ và tính tương quan của số liệu so với điểm học tập của trẻ,” Gruber cho biết.


http://www.psypost.org/2015/01/quality-sleep-impacts-academic-performance-children-30665

KHỦNG BỐ DƯỚI GÓC NHÌN TÂM LÝ HỌC - PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP


Vai trò của văn hóa
Theo TS. Tom Pyszczynski, ĐH Colorado, nghịch lý nằm ở chỗ, chính nỗi sợ hãi cái chết trong vô thức có thể là nguồn gốc đng cơ của chủ nghĩa khủng bố cũng như những phản ứng trước khủng bố. Cùng với đồng nghiệp là TS. Jeff Greenberg và TS. Sheldon Solomon, Pyszczynski đã phát triển “lý thuyết quản lý sự sợ hãi” trong đó cho rằng con người sử dụng văn hóa và tôn giáo để bảo vệ bản thân trước nỗi sợ cái chết nằm bên lề ý thức.

Xuyên suốt hàng chục nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu ý nghĩ về cái chết bằng cách cho các nghiệm thể tiếp xúc trong tiềm thức với những kích thích có liên hệ đến cái chết hoặc bằng cách, sau khi nhắc đến cái chết, đưa ra các bài tập trì hoãn – gây xao nhãng trước khi đánh giá tác động của gợi ý về cái chết trước đó đối với người tham gia. Nhóm nghiên cứu tìm ra rằng, kiểu kích thích tiềm thức này khiến nghiệm thể tự phòng vệ tâm lý trước cái chết theo những cách thức ít có liên hệ rõ ràng đến bản thân cái chết. Cách thức đó bao gồm cả việc con người thường bám lấy những căn tính văn hóa của mình, cố gắng sống theo những giá trị văn hóa đó và sẵn sàng đi rất xa để bảo vệ những giá trị trên. (Ngược lại, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng việc khiến con người suy nghĩ một cách có ý thức về sự hữu hạn của mình giúp làm tăng ý định thực hiện các hành vi bảo vệ cuộc sống, chẳng hạn như tập thể dục.)

Nhằm kiểm tra xem liệu lý thuyết này có áp dụng được vào xung đột giữa Trung Đông và Phương Tây hay không, nhóm của Pyszczynski đã thực hiện một loạt các nghiên cứu tại Mỹ, Iran và Israel. Trong cả ba quốc gia, những người tham gia được nhắc nhớ trong tiềm thức về sự hữu hạn – và do vậy, thường bấu víu rất chặt vào căn tính nhóm của mình – có khả năng ủng hộ sử dụng bạo lực chống lại các nhóm bên ngoài cao hơn. Người Iran ủng hộ đánh bom tự sát chống lại người Tây Phương nhiều hơn. Người Mỹ thì bảo vệ việc sử dụng quân đội chống lại các thành phần Hồi giáo cực đoan, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc sát hại hàng ngàn thường dân. Người Do Thái dễ tha thứ cho bạo lực chống lại người Palestine hơn. Những nghiên cứu này được tổng hợp trong bài báo đang trên tạp chí Behavioral Sciences of Terrorism & Political Aggression (Vol. 1, No. 1).

Những nghiên cứu sâu hơn được đồng giám đốc START (xem phần 1) Kruglanski thực hiện giúp chúng ta thấy tầm quan trọng của “tinh thần tập thể”trong chủ nghĩa khủng bố. Khảo sát thực hiện trên hàng ngàn người tại 15 quốc gia Ả rập và các nước khác của ông cho thấy những người Hồi giáo có tinh thần tập thể cao thường dễ ủng hộ các cuộc tấn công khủng bố chống lại người Mỹ hơn những người có xu hướng cá nhân. Nghiên cứu cũng phát hiện một người cho rằng bản thân có ít thành công trong cuộc sống bao nhiêu thì càng dễ có chiều hướng ủng hộ tư tưởng tập thể và tấn công chống Mỹ bấy nhiêu. Kruglanski kết luận, những kết quả này cho thấy việc tham gia vào các nhóm khủng bố có thể mang lại một cảm giác an toàn và ý nghĩa sống cho những người thiếu ý thức cá nhân.

“Trở thành một phần của lý tưởng tập thể là dấu hiệu một người sẵn sàng hy sinh bản thân”

Theo một nghĩa rộng hơn, theo nhà tâm lý và chuyên gia nghiên cứu khủng bố, TS. Fathali Moghaddam thuộc Bộ môn Tâm lý, ĐH Georgetown, nỗi sợ hãi tận diệt văn hóa có thể làm châm lửa tâm lý khủng bố. Trong nghiên cứu How Globalization Spurs Terrorism: The Lopsided Benefits of One World and Why That Fuels Violence(Praeger, 2008), Moghaddam cho rằng chính tốc độ toàn cầu hóa chóng mặt đã khiến các nền văn hóa va chạm với nhau và đe dọa đến sức ảnh hưởng hay làm tăng nguy cơ biến mất của một vài nhóm – đây chính là phiên bản văn hóa của câu “kẻ sống là kẻ mạnh”.

Moghaddam nói, “Bạn có thể diễn dịch chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo như một hình thức phản ứng trước việc nhận ra lối sống nền tảng của họ đang bị tấn công và sắp biến mất.”

Chính vì những niềm tin trên, các nhà tâm lý đang theo dõi thái độ của công chúng nhằm xác định phương thế thúc đẩy hòa bình cách tốt nhất. Ví dụ, Pyszczynki đã thực hiện một nghiên cứu cho thấy việc nhắc nhớ về vấn đề chung của nhân loại có thể giúp thay đổi thái độ của một người trước bạo lực với nhóm bên ngoài. Trong hai nghiên cứu mới nhất của nhóm, những người Mỹ đang phải làm quen với “cuộc chiến chống khủng bố” và người Palestine đang nằm dưới bom đạn của Israel được đề nghị suy nghĩ về thảm họa tại khu vực hay về vấn đề nóng lên toàn cầu. Một số còn được nhắc thêm về cái chết. Trong cả hai nghiên cứu, chỉ những người được yêu cầu suy nghĩ về cả cái chết và cả trái đất nóng lên tăng mức độ ủng hộ các hoạt động kiến tạo hòa bình.

Pyszczynki cho biết, “Ghi nhận đáng khích lệ là ngay cả khi đồng bào của họ đang ở trong tình trạng căng thẳng tăng cao, những người được nhắc về cái chết và những lý tưởng chung vẫn giảm mức độ ủng hộ chiến tranh và gia tăng tinh thần ủng hộ hòa bình.”

Nghiên cứu về chống-cực đoan

Trong thực tế, các nhà tâm lý đang tìm hiểu tính hiệu quả của các chương trình tìm cách “làm nguội” suy nghĩ và nhiệt huyết của những nghi can khủng bố tại Ai Cập, Iraq, Saudi Arabia, Singapore và Vương quốc Anh. Trong nghiên cứu sơ khởi, Kruglanski và cộng sự ghi nhận những chương trình này có các đặc điểm chung:
·         Nhân tố tri thức, các giáo sĩ Hồi giáo thường sẽ nói chuyện với những phạm nhân về lời dạy thật sự của kinh Qu'ran về bạo lực và thánh chiến.
·         Nhân tố cảm xúc giúp giải tỏa cơn giận và sự thất vọng của các phạm nhân bằng cách bày tỏ sự quan tâm chân thành đến gia đình, thông qua việc chu cấp giáo dục cho con cái hay đề nghị dạy nghề cho vợ của họ. Khía cạnh này đồng thời đề cập tới sự thật rằng các phạm nhân cũng đã chán ngán với lối sống và cảnh tù đày.
·         Nhân tố xã hội nhắm đến thực tế là các phạm nhân thường sẽ lại trở về những xã hội tái nuôi dưỡng các niềm tin cực đoan. Ví dụ, một chương trình ở Indonesia sử dụng các cựu chiến binh nay trở thành công dân ủng hộ luật pháp nhằm thuyết phục các cựu thành viên khủng bố rằng sử dụng bạo lực với thường dân sẽ đe dọa hình ảnh của Hồi giáo.
·         Theo Kruglanski, một số nỗ lực cho thấy nhiều hứa hẹn. Ví dụ, nhóm Hồi giáo cực đoan lớn nhất Ai Cập, Al-Gama'a al-Islamiyya, đã ngưng đổ máu từ năm 2003, đây là kết quả của một cam kết giữa nhóm và chính phủ Ai Cập do một luật sư Hồi giáo điều đình và thông qua một chương trình nơi các học giả Hồi giáo tranh luận với các lãnh đạo của nhóm bị cầm tù về ý nghĩa thật sự của Hồi giáo. Sau đó, các lãnh đạo của nhóm đã viết 25 tập tài liệu bảo vệ đường hướng phi bạo lực, và nhóm đã ngưng các hoạt động khủng bố kể từ thời điểm đó, Kruglanski cho biết. Nhóm cực đoan lớn thứ hai Ai Cập, Al Jihad, cũng đã từ bỏ bạo lực vào năm 2007 dựa trên một chương trình tương tự.

Năm hoạt động khác như trên ở Bắc Ai-len, Yemen, Saudi Arabia, Indonesia và Colombia hiện đang được nghiên cứu bởi TS. Horgan. Nghiên cứu của ông đề xuất một khung làm việc mà các nhà chính sách có thể sử dụng để đánh giá các chương trình trên, bao gồm tìm hiểu cách thức từng nỗ lực được xây dựng và đo đạc kết quả, đồng thời lượng giá thực tế và ý nghĩa thiết thực của những thành công được ghi nhận.

Với kinh nghiệm của bản thân trong việc nói chuyện với các cựu khủng bố, Horgan rất thận trọng với kỳ vọng dành cho những chương trình này. Trong nghiên cứu mới nhất của mình, ông nhận thấy một vài nỗ lực không chỉ thiếu các tiêu chí rõ ràng trong việc xác định điều gì là “thành công” mà yếu tố chống – ­cực đoan đôi khi còn vẫn chưa được đề cập trong các chương trình đó – những thành viên cựu khủng bố vẫn có thể tái nhập với xã hội và không tiếp tục tham gia các hành động khủng bố, tuy nhiên họ vẫn giữ những niềm tin cực đoan của mình.

“Không có bằng chứng cho thấy ngưng tham gia khủng bố là kết quả cần thiết của việc chống cực đoan”, ông chia sẻ.

Nhóm nghiên cứu của Kruglanski cam kết sẽ nghiên cứu thêm về vấn đề này thông qua các công cụ đánh giá mà họ đang phát triển nhằm đo đạc sự thay đổi trong thái độ của những người đã trải qua các chương trình trên, kể cả đo đạc những thay đổi ngầm trong thái độ, giúp nhận biết cảm xúc của họ một cách chính xác hơn thay vì chỉ đơn giản dựa trên lời nói.

Do sự đa dạng trong các kiểu chương trình cùng điều kiện văn hóa và xã hội nơi thực hiện, chắc chắn rằng những nỗ lực muốn thành công thì cần phải thiết kế chương trình dựa trên nền tảng từng trường hợp, TS. Max Taylor, nhà nghiên cứu về chủ nghĩa khủng bố thuộc ĐH St. Andrews, đồng tác giả với Horgan trong cuốn The Future of Terrorism" (Routledge, 2000), thêm vào.

Taylor cho biết, “Một vấn đề nghiêm trọng với chính sách chống khủng bố là chúng ta thường diễn dịch mọi việc theo quan điểm của mình, dựa trên những điều có ý nghĩa với mình,” “Đó không phải là vấn đề cần quan tâm: Vấn đề nằm ở việc điều gì mới là có ý nghĩa với những người tại chính nơi đó.”



KHỦNG BỐ DƯỚI GÓC NHÌN TÂM LÝ HỌC – PHẦN 1: CẠM BẪY TỪ SỰ SỢ HÃI

Chủ nghĩa khủng bố

Các nhà tâm lý thu thập những dữ liệu cụ thể về các tác nhân khiến một người đi theo chủ nghĩa khủng bố - đồng thời sử dụng những kiến thức đó để tìm cách ngăn ngừa hành vi trên.
Tori DeAngelis 11/2009

Xác định điều gì khiến con người đi theo chủ nghĩa khủng bố là một công việc không hề dễ dàng. Lý do? Những kẻ khủng bố không giống những người tình nguyện làm đối tượng thực nghiệm trong các nghiên cứu khác, đồng thời việc tìm hiểu hoạt động khủng bố từ xa có thể dẫn đến những kết luận thiếu chính xác. Hơn nữa, khủng bố với người này lại được nhìn nhận là chiến binh tự do với người khác, hàng triệu người Ả Rập vẫn luôn ủng hộ những người Palestine đánh bom liều chết là một minh chứng.

Với những khó khăn trên, các nhà nghiên cứu thừa nhận, tâm lý học khủng bố được ghi nhận như những lý thuyết và ý kiến cá nhân nhiều hơn là một ngành khoa học chính xác. Tuy nhiên, một số những nhà tâm lý học đã bắt đầu thu thập những dữ liệu đáng tin cậy khác nhau. Họ nhận ra rằng việc nhìn chủ nghĩa khủng bố dưới quan điểm năng động và là một tiến trình nhóm - chính trị sẽ mang lại nhiều hiệu quả hơn thay vì xem xét nó dưới phạm vi cá nhân, đồng thời những nguyên tắc tâm lý phổ quát – như tiềm thức về nỗi sợ cái chết cùng khát khao về ý nghĩa và vị trí cá nhân – có thể giúp giải thích một vài khía cạnh của hành động khủng bố và những phản ứng của chúng ta trước những hành vi này.

Sau cùng, những thông tin trên có thể hỗ trợ cho các nhiệm vụ phòng trừ khủng bố. Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý cho thấy việc xoa dịu những nỗi sợ về tận diệt văn hóa, nhấn mạnh tính nhân văn toàn cầu hay việc chỉ ra đâu là thực tế và ảo tưởng của khủng bố có thể giúp những người có ý định khủng bố từ bỏ bạo lực.

Thật vậy, theo nhà tâm lý xã hội TS.Arie Kruglanski, đồng giám đốc Liên hiệp Quốc gia về Nghiên cứu Khủng bố và Đáp trả Khủng bố (START) - một trong các Trung tâm Cơ sở Đại học Ưu tú được thành lập theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 2002,  ý niệm cho rằng khủng bố có thể được thuyết phục quay lưng với bạo lực nhờ đối thoại hòa bình và giang tay hỗ trợ đã không còn là giấc mộng viễn vông của một nhà tư tưởng đơn lẻ, trên thực tế, nó đã trở thành mục tiêu của nhiều chương trình “chống-cực đoan” trên toàn thế giới.

Kruglanski, người nghiên cứu một trong những chương trình trên, cho biết “Trong khi vẫn cần thiết đánh giá những chương trình này”, “trong một vài trường hợp, chúng ta có vẻ đã thu được một số thành công nhất định.”

Cạm bẫy đến từ sự sợ hãi

Trong nhiều năm, các nhà tâm lý đã kiểm tra những đặc điểm cá nhân của các thành viên khủng bố, đào xới những manh mối giúp giải thích ý muốn bạo lực của họ. Trong hoàn cảnh các nhà nghiên cứu hiện nay đều đồng ý rằng đa phần khủng bố không có “tâm bệnh” theo nghĩa truyền thống, tâm lý gia TS. John Horgan, người chỉ đạo Trung tâm Nghiên cứu Khủng bố Quốc tế thuộc ĐH Bang Pennsylvania, thông qua phỏng vấn 60 cựu thành viên khủng bố, đã rút ra được nhiều hiểu biết rất quan trọng.

Ông phát hiện rằng những người dễ tham gia khủng bố và cực đoan thường:
·         Cảm thấy giận dữ, bị xa lánh và tách biệt.
·         Tin rằng phạm vi tham gia chính trị hiện tại của họ không cho phép họ có đủ năng lực để tạo ra thay đổi thật sự.
·         Đồng hóa mình với những người mà họ cho là nạn nhân của bất công xã hội mà họ đang tranh đấu
·         Cảm thấy cần phải hành động thay vì chỉ ngồi thảo luận vấn đề
·         Tin rằng bạo lực chống lại nhà nước không phải là hành vi vi phạm đạo đức
·         Gia đình và bạn bè thông cảm với lý tưởng họ đi theo
·         Tin rằng tham gia phong trào sẽ đem lại những phần thưởng tâm lý và xã hội như cơ hội phiêu lưu, tình đồng chí và ý thức về căn tính được nâng cao.

Bên cạnh những đặc điểm cá nhân của khủng bố, Horgan còn nhận ra rằng việc điều tra cách thức con người thay đổi do tham gia khủng bố mang lại nhiều lợi ích hơn so với việc đơn thuần hỏi ngay tại saohọ bước chân vào tổ chức. Nguyên do là vì câu hỏi tại sao sẽ đem đến những câu trả lời về lý tưởng và rất hời hợt, trong khi hỏi về cách thức sẽ giúp tiết lộ những thông tin quan trọng về tiến trình gia nhập, hoạt động và rời bỏ tổ chức, dù là được tuyển chọn hay là do quyết định cá nhân; những thông tin về cách lãnh đạo tác động lên thành viên khiến họ nhận một vai trò nào đó, ví như tôn vinh hành động đánh bom tự sát; hay thông tin về những tác nhân thúc đẩy thành viên ra khỏi tổ chức.

Sau đó, những thông tin này có thể giúp đem lại những cách can thiệp khả dĩ. Ví dụ, dựa vào những gì Horgan biết được về lý do các thành viên rời bỏ tổ chức, một trong những chiến lược được sử dụng là nhấn mạnh cuộc sống mơ ước mà các tổ chức hứa hẹn chẳng bao giờ xảy ra – một kinh nghiệm được một cựu khủng bố hiện đang lẩn trốn chua chát thuật lại. Người đó kể với Horgan rằng anh ta bị lôi kéo vào phong trào ngay lúc còn tuổi vị thành niên khi một người tuyển chọn lãng mạn hóa lý tưởng chiến đấu. Nhưng anh nhanh chóng nhận ra đồng đội của mình chỉ có những giá trị tín ngưỡng mà không hề có lý tưởng anh đi theo, và khi giết nạn nhân đầu tiên trong khoảng cách gần, anh đã rất hoảng sợ.

Theo Horgan, “Những hành động thực tế không phải là những điều trẻ con được hướng dẫn để tin theo” “Việc nói chuyện với những cựu khủng bố hồi chánh, những người tay đã vẩn máu, đem lại cho chúng ta một cơ hội tuyệt vời để sử dụng chính những hành động và lời nói của khủng bố để chống lại chúng.”

Một số nhà tâm lý tin rằng chủ nghĩa khủng bố được nhìn nhận chính xác nhất khi đặt dưới lăng kính chính trị. Nhà tâm lý, TS. Clark McCauley, đồng nghiên cứu tại START và Trung tâm Nghiên cứu Xung đột Chính trị Sắc tộc Solomon Asch tại ĐH Bryn Mawr, xem chủ nghĩa khủng bố là “cuộc chiến của kẻ yếu”-nghĩa là nhóm người nào thiếu sức mạnh chính trị hay vật chất sẽ chống lại những gì mà họ cho là lực lượng áp bức. Ông tin rằng hành động khủng bố và phản ứng của chính phủ trước hành vi này có mối quan hệ hỗ tương năng động, chuyển động của nhóm này sẽ gây ảnh hưởng đến nhóm kia. Ví dụ, nếu khủng bố thực hiện một loạt tấn công và nhà nước sử dụng lực lượng trấn áp để gửi thông điệp trừng phạt, khủng bố sẽ dùng hành động này để dấy lên tâm lý chống chính phủ lớn hơn nơi người dân, và lấy đó làm cái cớ cho những hoạt động tiếp theo của họ. Tuy nhiên, nghiên cứu gần như vẫn tập trung chủ yếu vào các hành động khủng bố mà chưa đề cập tới tầm quan trọng của vế kia của phương trình, McCauley tranh luận. “Nếu bạn không theo dõi việc chúng ta đáp trả ra sao, thì làm sao bạn có thể hy vọng tìm ra giải pháp nào là tốt hơn hay tệ hơn?”




http://www.apa.org/monitor/2009/11/terrorism.aspx

3 CÁCH ĐỌC HIỆU QUẢ - MỪNG HLTL 10000 VIEWS

NGHIÊN CỨU CHO THẤY ĐÀN ÔNG LÀ NHỮNG KẺ NGỐC

Đàn ông và hành vi nguy hiểm


Khác biệt về giới trong các hành vi tìm kiếm rủi ro, các trường hợp nhập viện khẩn cấp hay tỉ lệ tử vong đều được ghi nhận rất đầy đủ. Đàn ông thường được đưa đi cấp cứu do tai nạn lao động, do thể thao và do tai nạn giao thông nhiều hơn phụ nữ.

Tuy nhiên, vẫn còn rất ít thông tin về khác biệt về giới trong các hành vi tìm kiếm rủi ro mang tính “ngu ngốc”. Vì vậy, các nhà nghiên cứu ở Anh đã quyết định kiểm tra “lý thuyết ngốc nghếch về đàn ông” (MIT), trong đó, thông qua quan sát, nhiều khác biệt về các hành vi tìm kiếm rủi ro được giải nghĩa bằng giả định cho rằng đàn ông là những kẻ ngốc và những kẻ ngốc sẽ làm những chuyện ngốc nghếch.

Các nhà nghiên cứu tìm hiểu thông tin về các hành vi ngu ngốc được thực hiện bởi những người thắng giải Darwin trong suốt 20 năm, từ 1995-2014, trong đó ghi nhận giới tính của họ. Để được vào danh sách này, các ứng viên phải tự loại mình ra khỏi nguồn di truyền của loài người bằng cách sử dụng những phương pháp vô cùng ngốc nghếch.

Một số trường hợp tiêu biểu như việc một người đàn ông tìm cách đi ké xe về nhà bằng cách gắn chiếc xe đẩy siêu thị theo sau một đoàn tàu hỏa, ông bị kéo lê đến chết suốt hai dặm trước khi đoàn tàu có thể dừng lại; một trường hợp khác là một tên khủng bố đã gửi một lá bom thư mà không dán đủ tem, sau đó khi bức thư bị trả về, hắn đã “vô tư” mở chính bức thư mình gửi.

Trong 413 đề cử cho giải thưởng trên, 332 trường hợp được kiểm tra và xác nhận độc lập bởi Ủy Ban Giải thưởng Darwin. Trong đó, 14 trường hợp do cả nam và nữ cùng thực hiện – thường là do những cặp đôi “hoàn cảnh” thích mạo hiểm cùng làm, 318 trường hợp còn lại phù hợp để tính toán thống kê.

Trong 318 trường hợp đó, có 282 cá nhân là nam và chỉ có 36 cá nhân là nữ. Như vậy, đàn ông chiếm đến 88.7% danh sách và theo tác giả, khác biệt về giới rõ ràng là có ý nghĩa về mặt thống kê.

Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết MIT, đồng thời ủng hộ giả thuyết cho rằng đàn ông là kẻ ngốc.

Tuy nhiên, theo tác giả, nghiên cứu này có những giới hạn. Ví dụ, phụ nữ thường đề cử đàn ông vào danh sách này nhiều hơn và sự khác biệt về giới có thể phản ánh sự khác biệt trong việc sử dụng chất có cồn ở nam và nữ.

Tác giả nói thêm, mặc dù vậy, việc vì sao đàn ông sẵn sàng chấp nhận những rủi ro không cần thiết như vậy vẫn thật sự rất khó hiểu – đôi khi chỉ đơn giản là một lời thề thốt, cố gắng giành lấy sự tôn trọng của xã hội hay chỉ đơn giản để đổi lất “quyền được khoe mẽ”.

Nhóm nghiên cứu tin rằng lý thuyết MIT cần được tìm hiểu sâu rộng hơn nữa, “trong mùa lễ hội, chúng tôi dự định sẽ tiếp tục thực hiện các nghiên cứu quan sát trực tiếp cùng các thực nghiệm về nam và nữ, có và không có sử dụng chất có cồn,” các nhà tâm lý kết luận.


LÀM CÁCH NÀO GIỮ VỮNG QUYẾT TÂM CHO NĂM MỚI?


30/12/2014 Ray Williams 
Khởi đầu Năm mới thường là thời điểm tuyệt hảo để “sang trang” cuộc đời của mỗi người, và đó là lý do tại sao rất nhiều người đặt ra những quyết tâm đầu năm. Thế nhưng, tại sao việc giữ vững các quyết tâm trên lại thường khó khăn đến thế?

Các nhà nghiên cứu đã tìm hiệu tỉ lệ thành công quyết tâm đầu năm của mọi người: Hai tuần đầu tiên thường diễn ra rất đằm thắm, tươi đẹp, nhưng từ khi bước vào tháng 2, chúng ta bắt đầu trượt dốc. Đến thời điểm tháng 12 của năm sau, chúng ta lại trở về điểm xuất phát – đôi khi lại còn thua cả năm trước. Tại sao nhiều người không thể thực hiện quyết tâm của mình? Do ý chí của chúng ta còn kém cỏi hay do mình quá lười biếng?

Theo nhà nghiên cứu John Norcross và cộng sự, những người vừa công bố phát hiện của mình trên Journal of Clinical Psychology, khoảng 50% dân số đặt ra quyết tâm mỗi dịp Năm mới. Những quyết tâm thường thấy nhất là giảm cân, tập thể dục, ngưng hút thuốc, quản lý tiền bạc tốt hơn và trả nợ.

Timothy Pychyl, Giáo sư tâm lý học tại ĐH Carleton – Canada, cho rằng quyết tâm đầu năm là một dạng “trì hoãn văn hóa”, một nỗ lực tái tạo bản thân. Chúng ta đặt ra quyết tâm như là cách động viên chính mình. Pschyl lập luận rằng con người chưa sẵn sàng để thay đổi các hành vi của mình, đặc biệt là những thói quen xấu, và đó là lý do khiến tỉ lệ thất bại cao đến vậy. Một nguyên nhân khác, theo TS. Avya Sharma thuộc Mạng lưới Béo phì Canada, là do chúng ta đặt ra những mục tiêu và kỳ vọng phi thực tế khi thực hiện quyết tâm đầu năm.

Giáo sư Tâm lý Peter Herman và cộng sự đã nhận diện điều mà họ gọi là “hội chứng hy vọng hão”, trong đó những quyết tâm của chúng ta rõ ràng phi thực tế và tách rời với nội quan của ta về chính mình. Nguyên tắc này được phản ánh qua việc tạo ra những xác nhận tích cực. Khi chúng ta đưa ra những nhận xét tích cực về bản thân mà ta lại không thật sự tin tưởng vào điều đó, nhận định tích cực không chỉ không có hiệu quả mà còn có thể làm tổn hại đến giá trị bản thân của mỗi người.

Một khía cạnh khác của những quyết tâm thất bại nằm ở mối quan hệ nhân – quả. Bạn có thể nghĩ rằng nếu mình giảm cân, trả nợ hay tập thể dục nhiều hơn thì toàn bộ cuộc sống sẽ biến đổi, nhưng nếu điều đó không xảy ra, bạn sẽ cảm thấy chán nản và dễ dàng quay ngược lại những hành vi cũ.

Hoàn thành quyết tâm đầu năm bao gồm việc thay đổi hành vi – để làm được điều này, bạn cần phải biến đổi nhận thức của mình (hay “tái lập” não bộ của bạn). Các nhà khoa học thần kinh như Antonio Damasio, Joseph LeDoux, và nhà tâm lý trị liệu Stephen Hayes, thông qua việc sử dụng MRI, đã tìm ra rằng hành vi thói quen được hình thành bởi những mô hình tư duy, trong đó tạo ra các đường liên hệ thần kinh và ký ức. Những yếu tố này sẽ trở thành nền tảng mặc định hành vi của bạn mỗi khi đối diện với một lựa chọn hay quyết định. Cố gắng thay đổi tư duy mặc định bằng cách “cố gắng không thực hiện điều đó”, trên thực tế, chỉ giúp củng cố các hành vi trên. Thay đổi cần phải có những đường liên hệ thần kinh mới, xuất phát từ những tư duy mới.

Trong Harvard Business Review Blog Network, Peter Bregman lập luận rằng “Khi chúng ta thiết lập các mục tiêu, chúng ta được dạy rằng cần làm sao cho chúng cụ thể, có thể đo đạc và có giới hạn thời gian. Tuy nhiên, hóa ra những đặc điểm trên lại chính là lý do các mục tiêu trở nên phản tác dụng. Một mục tiêu cụ thể, có thể đo đạc và xác định thời hạn giúp thúc đẩy các hành vi có phạm vi tập trung và thường dẫn đến gian lận hay thiển cận. Thật vậy, chúng ta thường đạt được mục tiêu, nhưng với giá nào?”

Bregman đề nghị nên sử dụng một khu vực tập trung, thay vì đơn thuần xác định những mục tiêu nhỏ lẻ, “Một khu vực tập trung sẽ tác động nhiều hơn đến động lực bên trong của bạn, nó không kích thích bạn gian lận hay thử những nguy cơ không cần thiết, nó sẽ để ngỏ mọi khả năng hay cơ hội tích cực, đồng thời khuyến khích bạn hợp tác, giảm thiểu cạnh tranh gây hao tổn. Tất cả những điều này khi được thực hiện sẽ giúp thúc đẩy những giá trị mà bạn và tổ chức bạn làm việc đánh giá cao.”

Nếu bạn vẫn thật sự muốn đặt ra những quyết tâm đầu năm thì đây là một vài mẹo giúp bạn giữ vững mục tiêu của mình:
  1. Tập trung vào một quyết tâm, thay vì đặt ra nhiều mục tiêu, đồng thời thiết lập những mục tiêu thực tế, cụ thể. Giảm cân chưa phải là mục tiêu cụ thể, hãy đặt ra nhiệm vụ giảm 5 ký trong 90 ngày;
  2. Đừng đợi đến Giao thừa rồi mới quyết tâm. Hãy biến nó thành một tiến trình kéo dài mỗi ngày, cả năm;
  3. Hãy làm từng bước. Rất nhiều người bỏ cuộc vì mục tiêu quá lớn, nó yêu cầu quá nhiều nỗ lực và hành động cùng một lúc;
  4. Hãy chọn một người bạn thân tín, người ở gần bạn mà bạn có thể báo cáo thường xuyên;
  5. Hãy ăn mừng thành công khi đạt được những bước tiến. Đừng đợi đến khi mục tiêu hoàn thành mới ăn mừng.
  6. Tập trung suy nghĩ của bạn vào hành vi và kiểu tư duy mới. Bạn cần tạo ra những đường liên kết thần kinh mới trong não bộ để thay đổi thói quen.
  7. Tập trung vào hiện tại. Đâu là điều bạn có thể làm ngày hôm nay, ngay bây giờ để giúp bạn đạt được mục tiêu?
  8. Mỗi khi có những sự kiện bên ngoài xuất hiện, hãy chú tâm vào trạng thái bên trong của bạn, cả về thể lý, cảm xúc và tinh thần. Hãy sống cho từng khoảnh khắc, thay vì ở mãi trong quá khứ hay tương lai.
Và cuối cùng, đừng nghiêm trọng hóa vấn đề quá mức. Hãy vui vẻ và mỉm cười chính mình mỗi khi bạn thất bại, nhưng đừng để vấp ngã ngăn cản bạn đến với mục tiêu của mình.


http://www.psychologytoday.com/blog/wired-success/201412/why-people-cant-keep-their-new-years-resolutions

 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google

Join us on Facebook

Please wait..5 SecondsCancel