chiêu thức bán hàng hiện đại

chiêu thức bán hàng

chia sẻ

10 TÍN HIỆU TÂM LÝ TỪ ĐỒNG TỬ MẮT CỦA BẠN

Tín hiệu từ đồng tử mắt
Đồng tử của chúng ta, khu vực trong mắt cho phép ánh sáng đi vào nhãn cầu, không chỉ giúp chúng ta nhìn mà còn là tín hiệu cho thấy những gì đang diễn ra trong tâm trí.
Sau đây là 10 nghiên cứu về tâm lý cho thấy đồng tử co giãn giúp bộc lộ những khía cạnh khác nhau trong suy nghĩ của chúng ta.
1. Khi đầu óc hoạt động
Nếu bạn hỏi tôi tên gọi của một tâm lý gia hay hút xì-gà, là người sáng lập nên phân tâm học, bạn sẽ chẳng quan sát thấy thay đổi gì trong kích cỡ đồng tử của tôi. Tôi sẽ dễ dàng đưa ra câu trả lời là Sigmund Freud.
Tuy nhiên nếu bạn hỏi về luật chơi môn cricket và quan sát đồng tử của tôi, bạn sẽ thấy sự khác biệt.
Nghiên cứu đã cho thấy não bộ của bạn càng hoạt động nhiều bao nhiêu thì đồng tử mắt của bạn càng giãn nở bấy nhiêu. Khi Hess và Polt (1964) cho người tham gia thực hiện các bài tập với độ khó tăng dần, đồng tử của các nghiệm thể cũng trở nên to hơn trước.
2. Khi trí não quá tải
Nếu bạn tiếp tục giải thích luật chơi cricket và quan sát thật kỹ mắt của tôi, bạn sẽ nhận ra thời điểm khi mà các thứ luật có vẻ vượt quá sức chịu đựng của tôi.
Poock (1973) chứng minh rằng khi sử dụng quá tải 125% khả năng của não bộ, đồng tử sẽ bắt đầu co lại.
3. Não bộ bị tổn thương
Lý do nhiều bác sĩ chiếu đèn phin vào mắt bệnh nhân khi khám bệnh là để kiểm tra xem não bộ của họ có hoạt động bình thường hay không (đây cũng là cách đơn giản nhất để kiểm tra). Các bác sĩ sử dụng cu5mt ừ viết tắt PERRL: đồng tử (Pupils) cần phải cân bằng (Equal), tròn (Round) và phản ứng lại (Reactive) với ánh sáng (Light).
Nếu não bộ của tôi có vấn đề, ví như tôi vừa bị chấn thương đầu chẳng hạn, bạn sẽ không thấy PERRL.
4. Tôi đang chú ý đến bạn
Đồng tử giãn nở còn có thể là tín hiệu cho thấy tôi có đang chú ý đến những gì bạn nói hay không.
White và Maltzman (1977) đã cho những người tham gia nghe một đoạn trích từ 3 cuốn sách: một cuốn sách khiêu dâm, một cuốn sách có cảnh chém giết và một cuốn sách bình thường.
Đồng tử của người tham gia ban đầu giãn nở ở cả ba cuốn sách. Tuy nhiên, về sau, đồng tử chỉ tiếp tục giãn nở ở những cuốn sách khiêu dâm và chém giết mà thôi.
Chúng ta có thể bị thu hút bởi bất kỳ thứ gì mới mẻ, vì vậy đồng tử sẽ giản nỡ lúc ban đầu, nhưng nó chỉ tiếp tục giãn nở nếu tôi cảm thấy thích thú với việc đó mà thôi.
5. Bạn đang kích thích tôi
Ở cả nam lẫn nữ, đồng tử sẽ giãn nở khi chúng ta bị kích thích về mặt giới tính (e.g.Bernick et al., 1971).
Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với thông tin này. Trong ví dụ trên, nghiệm thể được nghiên cứu bằng cách cho xem một số ảnh khỏa thân, vì thế nhiều người cho rằng họ chỉ đang “chú ý” vào đường nét khỏa thân chứ không phải do bị kích thích.
6. Bạn ghê sợ tôi
Trái với việc đồng tử mắt giãn nở khi bạn thích thú hay bị kích thích, đồng tử mắt sẽ co lại khi bạn ghê sợ.
Hess (1972) cho người tham gia xem một loạt các bức hình trẻ em bị chấn thương. Ban đầu đồng tử của nghiệm thể sẽ giản ra do sốc nhưng sau đó co lại vì họ cố gắng thử tránh né việc phải nhìn những bức hình trên.
7. Bạn là một người theo chủ nghĩa bảo thủ hay tự do
Barlow (1969) cho những người tham gia xem hình của Lyndon Johnson, George Wallace và Martin Luther King, Jr.. Thông thường, đồng tử mắt của những người theo chủ nghĩa tự do sẽ giãn khi thấy hình của các chính trị gia tự do là Johnson và King nhưng sẽ co lại khi thấy hình của chính trị gia bảo thủ Wallace. Những người theo khuynh hướng bảo thủ sẽ có chiều hướng ngược lại.
8. Đau đớn
Chapman et al. (1999) phóng một lượng điện nhỏ vào đầu ngón tay của những người tham gia nghiên cứu đồng thời đo đạc mức độ giãn nở đồng tử của họ. Ở mức cao nhất, đồng tử sẽ giãn tới 0.2mm.
Tuy nhiên, đó chỉ là dòng điện an toàn. Bạn có thể hình dung đồng tử của chúng ta sẽ ra sao nếu chọc tay vào dòng điện thế cao?
9. “Phê” thuốc
Một số chất như cồn và opioid có thể khiến đồng tử mắt co lại. Các chất khác, như amphetamine, cocaine, LSD và mescaline có thể khiến đồng tử mắt giãn ra.
Cảnh sát thưởng biết điều này và dựa vào đó để kiểm tra nghi phạm. Họ thường xem đồng tử mắt co dưới 3mm hay giãn trên 6,5mm  (Richman et al. 2004).
10. Nhân cách
Yếu tố này không hoàn toàn liên hệ với đồng tử, tuy nhiên cũng đem lại một số thông tin khá thú vị cần đề cập.
Nếu bạn nhìn kỹ vào phần tròng mắt có màu, bạn có thể có một tí manh mối về nhân cách của người đó. (Larsson et al., 2007).



Nếu bạn nhìn kỹ, bạn có thể thấy các phần đánh số 1, điều này cho thấy đây là người nồng ấm, nhẹ nhàng. Các phần số 3 thể hiện những người bốc đồng.
Có vẻ như gen Pax6 ảnh hưởng lên các phần não bộ gắn với các hành vi tiếp cận với người khác cũng tác động lên việc thiếu một số mô trong tròng mắt.
Đồng tử co giãn
Như các bạn đã thấy, cùng một phản ứng của đồng tử có thể mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau, dù nhìn chung đồng tử giãn mang các thông điệp tích cực và khi đồng tử co có thể hàm ý tiêu cực. Tuy nhiên, dấu hiệu trên thật sự có ý nghĩa như thế nào tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Một câu hỏi nhỏ khác, liệu chúng ta có thật sự phát hiện được những thay đổi nhỏ nhất trong kích cỡ đồng tử của người khác hay không?
Theo một nghiên cứu xử dụng hình quét fMRI, thay đổi trong kích cỡ đồng tử có thể khá khó để nhận ra một cách có ý thức, tuy nhiên chúng ta có vẻ có thể nhận rat hay đổi này một cách vô thức (Demos et al., 2008).
Như vậy việc nhận ra sữ thay đổi trong kích cỡ đồng tử, cùng với những tín hiệu ngôn từ và phi ngôn từ khác, có thể được xem như một bản năng quan trọng để chúng ta lựa chọn tiếp cận hay cao chạy xa bay khỏi một người nào đó.
Như vậy, dù mắt có phải là cửa sổ tâm hồn hay không thì chắc hẳn đồng tử vẫn là cửa sổ của tâm trí chúng ta.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Blog (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Blog http://www.spring.org.uk/2011/12/what-the-eyes-reveal-10-messages-my-pupils-are-sending-you.php và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/11/10-tin-hieu-tu-dong-tu-mat.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Blog và thông báo cho người dịch

YẾU TỐ NÀO MẠNH HƠN TƯỞNG THƯỞNG ĐẾN 3 LẦN?

Trừng phạt và tưởng thưởng, khích lệ

Theo một nghiên cứu, để thay đổi hành vi, có vẻ cái gậy đã chiến thắng củ cà rốt, tuy nhiên chúng ta chỉ cần “gậy “ nhỏ mà thôi.
Một nghiên cứu vừa so sánh hiệu quả giữa trừng phạt (cây gậy) và tưởng thưởng (củ cà rốt) nhằm tìm hiểu cách thức nào mang lại hiệu quả cao hơn.
Các nhà tâm lý nhận thấy tác động của trừng phạt cao hơn tưởng thưởng từ 2 đến 3 lần.
TS Jan Kubanek, tác giả nghiên cứu, giải thích:
“… phản hồi tiêu cực có thể hiệu quả hơn phản hồi tích cực trong việc điều chỉnh hành vi.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những phản hồi tiêu cực không nhất thiết là phải quá gay gắt do chúng ta có vẻ thường có cùng một cách phản ứng đối với mọi mức độ phản hồi tiêu cực.
Trên góc nhìn tiến hóa, con người có xu hướng tránh né sự trừng phạt hay những tình huống gây nguy hiểm.
Mặt khác, phần thưởng lại ít có tác động gây đe dọa đến mạng sống hơn.”
Nghiên cứu đưa ra những nhiệm vụ trong đó người tham gia sẽ được tưởng thưởng hay bị trừng phạt.
Trừng phạt và tưởng thưởng ở đây khá khiêm tốn: đơn thuần chỉ là những đồng xu đánh dấu từ 5 đến 25 xu.

Các nhà nghiên cứu quan tâm xem liệu những phần thưởng và hình phạt sẽ ảnh hưởng ra sao đến hành vi.
Kết quả cho thấy, một cách tự nhiên, tưởng thưởng hành vi giúp thúc đẩy người chơi thực hiện hành vi đó.
Tuy vậy, kích cỡ khích lệ của tưởng thưởng lại khá nhỏ khi đem so sánh với tác động ngăn cản của trừng phạt
TS Kubanek cho biết:
“Một cách khách quan, bạn thường nghĩ rằng việc thắng 25 xu sẽ có mức độ tác động tương đương với việc thua 25 xu, tuy nhiên, điều này lại trái ngược với những gì chúng tôi tìm thấy.”
GS Richard A. Abrams, một tác giả khác của nghiên cứu, chia sẻ:
“Câu hỏi về cách thức tưởng thưởng và trừng phạt ảnh hưởng lên hành vi đã đeo đuổi các nhà tâm lý từ hơn 100 năm nay.
Chúng ta thường gặp khó khăn trong việc tìm ra những nhiệm vụ hữu hiệu nhằm thăm dò câu hỏi trên.
Chúng tôi đã sử dụng một tiếp cận giản đơn nhưng giúp hé lộ những khác biệt rõ rệt trong cách con người phản ứng trước các kiểu phản hồi khác nhau.”
Tuy vậy, cũng cần nhớ rằng, việc liên tục đưa ra những phản hồi tiêu cực có thể mang lại nhiều tác động khác không được tìm hiểu trong nghiên cứu này.
Một ví dụ: đối phương sẽ ghét bạn.
Dù vậy, nghiên cứu này gợi nhớ cho chúng ta rằng phản hồi tiêu cực, khi được sử dụng một cách thích hợp, đôi lúc có thể rất công hiệu.
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Cognition năm 2015 (Kubanek et al., 2015).

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.spring.org.uk/2015/05/motivation-this-force-has-3-times-the-power-of-rewards.php và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/10/so-sanh-trung-phat-tuong-thuong-khich-le.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch


MỐI LIÊN HỆ GIỮA STRESS VÀ BẤT HÒA GIA ĐÌNH VỚI HÀNH VI NGHIỆN INTERNET Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

Nguyên nhân nghiện internet

ERIC W. DOLAN ON 21/4/2010
Dù hành vi nghiện internet đã được xem là một vấn đề sức khỏe tinh thần từ những năm 90, chúng ta vẫn không biết nhiều về nguyên nhân của hành vi này.
Theo một nghiên cứu được xuất bản trên Cyber Psychology & Behavior, việc trẻ vị thành niên không hài lòng với gia đình và các sự kiện gây stress có khả năng liên hệ tới những hành vi nghiện internet.
Nghiên cứu được công bố năm 2009 do Lawrence T. Lam, Zi-wen Peng, Jin-cheng Mai, và Jin Jing thực hiện.
Trong nghiên cứu của mình, Lam và các cộng sự đã khảo sát 1639 học sinh từ 12 đến 18 tuổi.
“Những học sinh thất vọng với gia đình thường có khả năng nghiện internet cao gấp 2,5 lần so với những bạn cảm thấy hài lòng.”
Mối liên hệ giữa stress và vấn đề nghiện còn cao hơn.
“Tỉ lệ nghiện cao hơn 10 và 2,8 lần lần lượt đối với những bạn vừa trải nghiệm sự kiện gây stress nặng và vừa so với những bạn không trải qua sự kiện gây căng thẳng.”
Nghiên cứu còn phát hiện nam giới có khả năng nghiện internet cao gấp 50% so với nữ giới.
Kết quả cho thấy triệu chứng nghiện internet có thể bị gây ra do việc sử dụng internet như một cơ chế phòng vệ đối phó với stress và các vấn đề liên quan tới stress. Những bạn trẻ có mối quan hệ tiêu cực với gia đình hay vừa trải qua tình huống gây stress có thể sử dụng internet để làm xao nhãng bản thân.
Nếu việc không hài lòng với gia đình hay phải trải qua các sự kiện gây stress là những vấn đề dai dẳng, trẻ vị thành niên có thể phụ thuộc vào nguồn gây xao nhãng này để kiểm soát mức độ stress của mình.
Theo Lam và cộng sự giải thích, stress đồng thời cũng liên hệ với các triệu chứng nghiện khác. “Chúng ta biết rằng stress là yếu tố nguy cơ dẫn đến nghiện chất và cũng là tác nhân dẫn tới xu hướng tái nghiện.”
Nghiên cứu:
Lam, L.T., Peng, Z., Mai, J. & Jing, J. (2009). Factors associated with internet addiction among adolescents. CyberPsychology & Behavior, Vol 12, No 5.


Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2010/04/stress-family-internet-addiction-596 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/10/nguyen-nhan-nghien-internet-nghien-game.html.Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch

CON GÁI HƯỞNG LỢI KHI CÓ MẸ ĐI LÀM

Phụ nữ có con có nên đi làm hay không?
Jaci Conry
“Trong vài tháng qua, cô con gái Emma 3 tuổi của tôi liên tục khóc mỗi khi tôi chuẩn bị đi làm. Cô bé vẫn rất quý cô trông trẻ mà tôi và chồng thuê; thông thường, sau khi ra khỏi nhà vài phút, tôi sẽ lén nhìn qua cửa sổ và thấy Emma vẫn quấn quit trò chuyện với cô ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn chẳng thể kìm lòng được mỗi khi Emma ôm chằm lấy tôi, cố gắng giữ tôi ở nhà.”
Giáo sư Kathleen McGinn thuộc Đại học Harvard tin rằng nhiều bà mẹ trong trường hợp trên hiện đang cảm thấy tội lỗi nhiều hơn mức cần thiết. Kathleen là người đứng đầu một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Sáng kiến về Giới của trường ĐH Kinh tế Harvard, bà nhận thấy rằng con gái của những bà mẹ “công sở”, khi lớn, thường có việc làm, làm nhiều thời gian và có mức thu nhập cao hơn những người có mẹ ở nhà toàn thời gian. Nghiên cứu khảo sát trên 20000 người thuộc 24 quốc gia này còn cho thấy những phụ nữ có mẹ đi làm trong quá khứ cũng thường giữ những chức vụ quản lý cao hơn. Đối với đàn ông, việc có mẹ đi làm xem ra không ảnh hưởng nhiều đến công việc sự nghiệp của họ, tuy vậy, kết quả cho thấy họ giành nhiều thời gian hơn trong việc chăm sóc các thành viên trong gia đình khi so sánh với những người có mẹ ở nhà.

McGinn còn cho biết các bà mẹ đi làm thường cảm thấy hài lòng vì hình mẫu mình tạo ra cho con mình. “Trong một thời gian dài, chúng ta thường nghe rằng [phụ nữ] ở nhà thì sẽ tốt cho con cái”. Tuy nhiên, điều này xem ra không chính xác. “Những bà mẹ đi làm sẽ tác động đến thái độ về giới, niềm tin về việc những gì là ‘đúng’ và ‘bình thường’ với phụ nữ nơi con trẻ. Trẻ sẽ biết rằng việc phụ nữ đi làm và đàn ông tham gia công việc gia đình là những điều hoàn toàn hợp lý.” McGinn còn chỉ ra một nghiên cứu được xuất bản năm 2010 trên Psychological Bulletin do Rachel G. Lucas-Thompson thực hiện, ở trường, những trẻ này còn có kết quả học tập và hành vi tương đương, nếu không nói là tích cực hơn, so với các trẻ có mẹ ở nhà.
Tất nhiên, nhiều cha mẹ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải đi làm – Hoa Kỳ là nước công nghiệp hóa duy nhất không bắt buộc trả tiền nghỉ thai sản cho nhân viên – đối với nhiều bà mẹ, kiếm sống là con đường duy nhất. Thế nhưng, đối với những phụ nữ mà người chồng có đủ khả năng để chu cấp cho người vợ ở nhà, việc đi làm hay không là một lựa chọn khá đau đầu.
Michelle Juralewicz, một giám đốc quan hệ côn chúng sống ở Jamaica Plain. Đã nghỉ thai sản 8 tuần sau khi sinh con. Dù xem quyết định trở lại công việc do các yếu tố về kinh tế, Juralewicz, 33 tuổi, vẫn cho biết cô chưa sẵn sàng trì hoãn thời điểm đỉnh cao trong sự nghiệp của mình. Cha mẹ cô sở hữu một doanh nghiệp nhân sự suốt thời gian cô và 3 anh em của cô lớn lên. “Tôi luôn xem sự nghiệp là một con đường tự nhiên giành cho phụ nữ, đồng thời phụ nữ có thể nang bằng với nam giới – mặc cho việc xã hội ra sức ngăn cản điều đó.”, Juralewicz cho biết. Cô đồng thời cũng chia sẻ việc nhà nang bằng với chồng mình.

Làm việc và nuôi dạy con vì thế như một trò chơi tung hứng. “Megan Pesce, mẹ của hai bé trai 8 và 11 tuổi, một nhà thiết kế nội thất, cho biết “Tôi cảm thấy mình như đang phải lầy lội rất nhiều lần” “Việc nhận lãnh cả hai trách nhiệm có thể khiến bạn bị ngộp. Đôi khi tôi băn khoăn liệu mình có làm cả hai phần việc đủ tốt, hay những gì tôi làm chỉ ở mức tầm tầm mà thôi”. Tuy nhiên cô Pesce, 41 tuổi, luôn biết rằng cô muốn giữ lấy sự nghiệp của mình.
Mẹ của Pesce là y tá, thường làm việc ca đêm trong suốt thời gian cô và hai em của mình lớn lên. “Mẹ tôi là một bà mẹ đơn thân buộc phải làm việc để kiếm sống. Bà có bằng thạc sĩ và trở thành một y tá pháp ý. Bà giúp tôi nhận ra rằng tôi có giá trị đến mức nào. Tôi không biết liệu tôi có đủ sự tự tin để làm tất cả những điều này nếu thiếu tấm gương của bà hay không.”
Pesce thường tính toán vào ban đêm và hay tiếp khách hàng vào chiều tối; chồng của cô, một doanh nhân, là người đứng mũi chịu sào cho những công việc nội trợ. “Tôi muốn được ở bên con mình càng nhiều càng tốt”, Pesce cho biết “Tôi đến những buổi luyện tập và các trận đấu của con mình. Con tôi biết rằng mẹ chúng đi làm, nhưng cũng biết rằng gia đình là rất quan trọng.”
Một bà mẹ lựa chọn việc ở nhà có thể phải đối mặt với một khó khăn khác: làm sao để chăm sóc gia đình với chỉ một đầu lương. Tuy vậy, với Kerry McDonald, một bà mẹ đến từ Cambridge, đó là một sự hi sinh xứng đáng. McDonald, 38 tuổi, đang điều hành một công ty tư vấn huấn luyện doanh nghiệp khá thành công. Cô nhớ lại “Suốt thời gian tôi mang thai, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ không trở lại làm việc. Công việc lúc đó mới là đứa con của tôi.” “Tôi nghĩ rằng mình sẽ chỉ nghỉ vài tháng. Rồi  bỗng tôi nhận ra bản thân mình đã chạy theo cho con ăn, địu con đi mỗi ngày, lo cho con khi con khóc, và tôi nhận ra tôi muốn ở bên để chăm sóc con mỗi khi con cần.”
McDonald giờ đã có 4 đứa con và là đồng biên tập “Choosing Home,” một cuốn ebook với những bài viết về các bà mẹ đã từ bỏ công việc để theo đuổi nghiệp ở-nhà-nuôi-con. Cô cảm thấy sự hỗ trợ từ cộng đồng cho những bà mẹ ở nhà nuôi con nay đã giảm bớt ít nhiều.
“Tôi nghĩ rằng hiện này xã hội chúng ta thường đặt ưu tiên cho công việc, tiền bạc và tiêu xài lên trên cả gia đình, con cái và nhà cửa” McDonald cho biết. Bà đánh giá thấp kết quả nghiên cứu của McGinn. “Tôi cảm thấy rất khó chịu khi nghiên cứu nhấn mạnh chức danh và lương bổng là những chỉ báo của một cuộc sống thành công”

Angela Stevenson, một nhà môi giới bất động sản tại Hingham, đã chứng kiến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống công việc kể từ khi cô trở thành mẹ vào bảy năm trước. Bà mẹ ba con hiện nay đang kinh doanh quảng cáo truyền thông đã bỏ ra hai năm rưỡi ở nhà sau khi sinh đôi, sau đó cô phụ trách bán hàng cho một công ty công nghệ, công việc yêu cầu cô phải đi công tác rất nhiều. Cuối cùng, cô phải chuyển qua công việc hiện tại vì tính linh động và để giảm bớt khoảng cách với con.

“Khi tôi mới làm mẹ, mọi việc như chỉ có đúng và sai, nhưng bây giờ tôi đã có thể làm cả hai mà không phải cảm thấy lưỡng lự” Steveson cho biết. “Tôi rất hài lòng khi mình có thể ở nhà cả ngày, đồng thời tôi cũng tận hưởng công việc của mình. Tôi cho rằng mức độ stress ở cả hai kịch bản là ngang nhau”
Mẹ của cô cũng làm việc trong khi nuôi dạy cô. “Tôi chứng kiến bà học đại học và thạc sĩ, tôi luôn tự hào về bà. Tôi nhớ có lần bà đã dạy tôi, thứ tốt nhất mà con có thể có là cơ hội để chọn lựa, và tôi thấy hiện giờ điều ấy rất đúng.”
McGinn ghi nhận rằng mặc cho tất cả những thay đổi tại công sở thời hiện đại, cha mẹ vẫn tìm ra cách để hiện diện bên con cái. “Số giờ cha mẹ giành cho con vẫn ổn định từ những năm 60… Khi đó các bà mẹ cũng chẳng ngồi chơi đồ hàng với con cả ngày. Họ cũng làm mọi việc trong nhà và con cái cũng bị đặt qua một bên.”
Như vậy, dù cha mẹ có gặp khó khăn trong việc cần hiện diện nhiều nơi cùng lúc, con cái vẫn cảm thấy mình được chú ý. “Tổng số giờ cha mẹ giành cho con bây giờ đã có thêm sự góp mặt của người cha, những người đang tham gia nhiều hơn hẳn so với những thời đại trước”, McGinn cho biết. “Và những lúc bà mẹ đi làm có mặt bên con mình, thời gian ở bên nhau của cả hai cũng được chú trọng hơn.”

 Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ The Boston Globe (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của The Boston Globe https://www.bostonglobe.com/lifestyle/2015/10/04/study-finds-that-daughters-benefit-when-moms-work/Mjoe0kvAhyi41DXmUeatAP/story.html và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/10/con-cai-huong-loi-khi-me-di-lam.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của The Boston Globe và thông báo cho người dịch

 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google

Join us on Facebook

Please wait..5 SecondsCancel