chiêu thức bán hàng hiện đại

chiêu thức bán hàng

chia sẻ

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG TRONG GIA ĐÌNH?

Quản lý điện thoại trong gia đình
Nguồn tranh: Mary Ann Smith

20/03/2015 BRUCE FEILER
Các bậc cha mẹ thường có thói quen ghi nhớ những “lần đầu tiên” của con mình. Một số thứ mang đến niềm vui: nụ cười đầu tiên, bước chân đầu tiên, lần xa nhà đầu tiên. Một số thứ mang đến lo lắng: lần sốt đầu tiên, cơn giận đầu tiên, tai nạn đầu tiên. Khi con cái lớn lên, những lần đầu tiên của chúng lại có thêm những sắc thái mới, đem lại niềm vui độc lập cho trẻ và nỗi sợ xa cách nơi cha mẹ: mùa hè vắng con đầu tiên, buổi hẹn hò đầu tiên, lần lái xe đầu tiên.
Nhưng chắc chẳng có “lần đầu tiên” nào lại mang đến nhiều mâu thuẫn như chiếc điện thoại di động đầu tiên.
Một mặt, nhiều cha mẹ rất hoan nghênh cột mốc này. Bây giờ họ có thể liên lạc với con khi chúng đi chơi và nhắc nhở khi các em về trễ. Đồng thời, cha mẹ cũng có một phương tiện quyền lực mới. Một bà mẹ nói với tôi rằng, “Tôi nhận thấy điện thoại di động đã cho tôi một quyền lực mới trong vai trò cha mẹ, vì bây giờ tôi có thể tịch thu chúng!”
Mặt khác, con cái lại bắt đầu có xu hướng “biến mất” đằng sau màn hinh di động khi chúng có chiếc điện thoại đầu tiên.
Các em có thể trở nên dễ bị ảnh hưởng hơn bởi những mặt tối của Internet, và những thói quen tưởng chừng dễ chịu nay hóa ra lại phản tác dụng. “Chúng tôi từng là một gia đình trước khi chúng có điện thoại,” một người cha lên tiếng phàn nàn. “Bây giờ chúng tôi chẳng bao giờ gắn kết như trước được nữa.”  
Vậy cha mẹ nên xử lý hiện tượng này như thế nào? Một số sẽ bàn đến khái niệm tự do và trách nhiệm, vẫn cho con dùng điện thoại và sẽ phản ứng tùy trường hợp xảy ra. Tuy nhiên, một số lại thử làm một việc khó khăn hơn, thiết lập một loạt các nguyên tắc luật lệ.
Lấy gia đình Tổng thống Obama làm ví dụ, ông tuyên bố rằng sẽ không cho hai cô con gái xài điện thoại di động cho đến khi 12 tuổi, cả hai sẽ không được dùng điện thoại vào cuối tuần, không được có Facebook đến khi 17 và phải tham dự các buổi mà đệ nhất phu nhân gọi là “thuyết giảng” về mối nguy hiểm của việc nói chuyện với người lạ. Janell Burley Hofmann, một bà mẹ tại Massachusetts, viết một lá thư gửi đứa con 13 tuổi của mình khi em lần đầu sở hữu điện thoại di động, trong đó liệt kê 18 điều khoản bao gồm: “Nếu điện thoại kêu, hãy nhấc máy. Nó là một chiếc điện thoại! Hãy chào hỏi, dùng đúng phép lịch sự. Đừng bao giờ không nhấc máy vì màn hình xuất hiện tên “Ba” hay “Mẹ”. Đừng bao giờ!”
Internet hiện tại có hàng chục loại “hợp đồng” được soạn thảo giành cho cha mẹ và con cái. Với vị trí (của tác giả) là người cha của hai đứa con tuổi đôi mươi, tôi rất thích ý tưởng này, tuy nhiên tôi cũng đủ thực tế để hiểu rằng vài ba trang hợp đồng sẽ nhanh chóng bị lãng quên và chừng đó là chưa đủ để “chống chọi” trước những ứng dụng “đối phó” với phụ huynh. Điều tôi mong muốn là một số các luật lệ bao quát giúp định hướng cho tương tác giữa hai bên.
Cha mẹ vẫn là cha mẹ của con
Yalda Uhls, tâm lý gia thuộc Common Sense Media và tác giả của cuốn sách “Mẹ Truyền thông và Cha Kỹ thuật số”, chia sẻ rằng phụ huynh nên đặt ra các hướng dẫn ngay từ ban đầu: “Tôi tin rằng khi lần đầu bạn đưa cho con mình một thiết bị có thể truy cập không giới hạn đến Internet và bạn bè, việc bạn nói rõ là cha mẹ sở hữu, chi trả cho chiếc điện thoại là rất quan trọng, và nếu có bất kỳ hành vi nào mà bạn cảm thấy không phù hợp với giá trị của gia đình, bạn có thể tịch thu điện thoại.”
Một phần trong thỏa thuận này là việc bạn cũng phải tôn trọng những giới hạn, Yalda cho biết, nhưng bạn cũng có quyền tham gia bất kỳ mạng xã hội nào trẻ tham gia, biết mật mã và được kiểm tra tin nhắn của các em. Điều này có thể tạo ra những tình huống khó xử, tâm lý gia chia sẻ, như một lần con gái của tôi có bình luận trên trang Instagram của một người bạn, trên đó anh ta cho biết việc trộm vặt thú vị như thế nào. “Tôi cảm thấy rùng mình, tuy nhiên tôi chọn cách tập trung vào những tác động trên anh ta. Tôi nói với con, ‘Đây là một diễn đàn mở. Cha mẹ anh ta sẽ thấy những điều này.’ “ Sau đó con tôi gỡ bỏ lời bình luận trên.
Dù xem ra có vẻ trẻ em biết hết mọi thứ về mạng xã hội, thật ra các em vẫn đang học cách sử dụng mà thôi. “Các em quá tập trung vào bản thân hay bạn bè,” cô cho biết, “các em không hiểu rằng người khác đang quan sát mình.”
Tránh xa khỏi điện thoại
Trên 10 hợp đồng tôi tìm hiểu, có một mục xuất hiện thường xuyên nhất: “Phải tắt điện thoại và để ra xa trong một khoảng thời gian nhất định vào ban đêm.” Nghiên cứu ủng hộ điều này. Nghiên cứu của ĐH Basel phát hiện rằng những bạn thiếu niên giữ smartphone  về đêm thường dễ xem phim, nhắn tin, có thói quen ngủ kém và mức độ trầm cảm cao hơn. Lynn Schofield Clark, giáo sư tại ĐH Denver và là tác giả sách “The Parent App”, cho rằng thiết lập những giới hạn thể lý có thể sẽ dễ dàng hơn việc thi hành các quy định hạn chế về thời gian.  
Bà cho biết, “Khi phụ huynh nói, ‘Con chỉ có thể sử dụng điện thoại từ giờ này đến giờ này,’ điều này rất khó kiểm soát.” Giáo sư Lynn khuyến nghị tất cả điện thoại di động nên để vào một chiếc hộp để ngay cửa mỗi khi trẻ bước vào nhà, hoặc tất cả các thiết bị phải để ngay giữa bàn trong bữa ăn, kể cả ăn trong nhà hàng.
“Bất kể bạn áp dụng luật nào, hãy đảm bảo đồ sạc điện để ở những phòng sinh hoạt chung, như vậy trẻ sẽ không giữ điện thoại vào ban đêm.”
Đọc mội tin nhắn hai lần
Một trong những vai trò của cha mẹ là giải thích cho con cái rằng giao tiếp kỹ thuật số thường dễ bị hiểu sai. Ken Denmead, tác giả của nhiều đầu sách, cho biết ông thường nói với con trai đang tuổi vị thành niên của mình rằng những cuộc trò chuyện bằng tin nhắn thường không thể hiện được sắc thái cảm xúc trừ khi có những bước can thiệp thêm vào. “Bạn có thể sử dụng biểu tượng mặt cười hay các biểu tượng cảm xúc khác  để gửi kèm xúc cảm cho những gì bạn đang nói” “nó cũng tùy thuộc vào các lựa chọn từ ngữ hay thêm vào các ghi chú. Kết luận: Trước khi bạn gửi đi một tin nhắn, hãy lùi lại một bước, đọc lại nội dung đặt bên ngoài ngữ cảnh. Cân nhắc xem liệu một dấu chấm than có bị hiểu nhầm thành một lời nói hung hăng hay không.”
Quy tắc Bà ngoại
Mọi người đều đồng ý về việc cần giúp trẻ tránh các tin nhắn tình dục, việc bị bắt nạt hay đăng tải các nội dung không phù hợp. Nhưng làm cách nào để ta thực hiện những điều trên? Một phụ huynh từng nói với tôi rằng bà yêu cầu con mình dán những nội dung chúng định post lên cửa tủ lạnh và để cả nhà bỏ phiếu xem có nên đăng tải những điều đó hay không. Denmead thì nói với các con ông như sau, “Hãy luôn giả vờ như các con đang nói chuyện trước đám đông.”
GS. Uhls thì cho con mình tưởng tượng. Bà nói, “Hãy nghĩ về bà nội của con. Nghĩ về thầy Hiệu trưởng. Nghĩ về người lớn nào khiến con lúng túng nhất. Trước khi bấm gửi tin nhắn, hãy nghĩ về cách người đó phản ứng trước tin nhắn của con.” Các con gái của tôi (tác giả) cũng tự mình đề nghị một quy tắc tương tự, và khi tôi hỏi đâu là hệ quả nếu vi phạm quy định trên, các bé trả lời, “Đưa cho Bà ngoại xem những bài đăng đó!”
Không dùng điện thoại trong thời gian giành cho gia đình
Tất cả những người tôi từng nói chuyện đều có một số quy tắc nhất định về thời gian giành cho gia đình. Bà Uhls cho biết: “Khi tôi còn trẻ và tham gia các lớp học làm cha mẹ, ai cũng nói rằng ‘[Thời gian giành cho gia đình là] 10 phút chơi với con trên sàn nhà.’ Bây giờ tôi cũng nói điều tương tự. ‘Chỉ 10 phút. Không có bất kỳ thiết bị nào. Đó là thời gian giành cho nhau.’ “
Trong gia đình của Denmead, 20 phút đầu tiên mỗi lần lên xe đều được giành để trò chuyện. Sau đó, mọi người mới được phép sử dụng các thiết bị.
Schofield Clark còn đi xa hơn khi đưa thời gian giành cho gia đình vào hợp đồng bà ký với con mình. Mục đó ghi là: “Chúng ta sẽ có những hoạt động phi-công nghệ hành tuần, như đi bộ, đạp xe, dắt chó đi dạo. Thỉnh thoảng, chúng ta sẽ có những buổi nghỉ dưỡng phi-công nghệ, như đi câu cá hay cắm trại.” Hợp đồng còn có thêm những buổi xem phim hàng tuần, với điều khoản, “Khi mẹ xem phim kinh dị hay huyễn tưởng, con không được phép nói ‘Eo ôi’, ‘Ôi không!’ hay ‘Hả!’ “
Bạn cũng hãy làm như vậy
Một điều bất ngờ tôi nghe được về những thỏa thuận này: Cần có những quy định giành cho cha mẹ, những người đặc biệt lạm dụng công nghệ. Con gái của Schofield Clark nhấn mạnh vế sau, “Khi con có điều cần trao đổi, mẹ phải đóng laptop và lắng nghe.”
Con trai của bà thêm vào quy tắc sau. Từ khi các con còn nhỏ, bà Schofield thường chụp hình con mình với ông già Noel mỗi kì Giáng Sinh. Đến khi các em dậy thì, bà vẫn ép chúng chụp hình và đăng lên Facebook. Chỉ vài giây sau, con trai 14 tuổi của bà chạy thẳng vào phòng. Bây giờ thỏa thuận của họ thêm vào một điều khoản “mẹ phải hỏi nếu muốn đăng hình có con trong đó.”
Câu chuyện này có lẽ đem đến bài học cuối cùng về quản lý truyền thông trong gia đình: Không có thỏa thuận về công nghệ nào tồn tại vĩnh viễn. Chúng cần được xem xét lại khi mỗi đứa con ra đời, khi mỗi giai đoạn diễn ra, khi mỗi một thiết bị hay ứng dụng mới xuất hiện.


TẠI SAO SUPER MARIO LẠI CHẠY TỪ TRÁI SANG PHẢI?

Quy ước chuyển động thị giác




Theo một số nghiên cứu, có thể tồn tại một khuynh hướng căn bản về cách chúng ta hay nhìn các vật thể đang chuyển động được khắc họa trong hình ảnh.
Một phân tích dựa trên hình ảnh con người và đồ vật khi chuyển động cho thấy có một xu hướng chung về chiều quan sát trái-sang-phải.
Chúng ta vẫn thấy quy ước trái-sang-phải trong game hiện nay
Tâm lý gia, TS, Peter Walker thuộc ĐH Lancaster cho biết, các bằng chứng rộng rãi về khuynh hướng trái-sang-phải trên có thể biểu thị một khuynh hướng căn bản về thị giác chuyển động, đồng thời nó có thể giải thích lý do vì sao các nhân vật chính trong một số các trò chơi điện tử nổi tiếng vào thập nhiên 80 và 90 thường di chuyển từ trái sang phải (vd: Super Mario).
Peter Walker đã phân tích hàng ngàn tấm ảnh trên Google trong nghiên cứu vừa được xuất bản của mình trong tạp chí Perception.
Ông cho biết: “Những quy ước nghệ thuật nào đã được sử dụng để chuyển tải sự chuyển động của các vật hữu tri và vô tri trong các bức hình tĩnh, như trong tranh vẽ hay nhiếp ảnh? Một quy ước hình ảnh hay được thể hiện là việc khắc họa các đồ vật đang nghiêng về phía trước, hướng theo sự chuyển động của mình, trong đó độ nghiêng càng cao thể hiện tốc độ càng lớn. Một quy ước khác được mô tả trong nghiên cứu này là việc các đồ vật thường được minh họa chuyển động từ trái sang phải.”
Tuy nhiên, khuynh hướng này không áp dụng được đối với người hay vật đang đứng yên.
“Bên cạnh việc khuynh hướng hướng về bên phải đã được tìm thấy trong hình ảnh vật thể đang chuyển động (hướng càng nhiều thì chuyển động được thể hiện càng nhanh),  khi chính những độ vật đó đang ở tư thế tĩnh, chỉ có khuynh hướng sang trái hay không có khuynh hướng là được ghi nhận. Nó cho thấy khuynh hướng căn bản trái-sang-phải xuất hiện trong thị giác chuyển động.”
Khuynh hướng trên cũng được nhận thấy khi các nhà thiết kế hay nghiêng chữ qua phải để thể hiện tốc độ và chuyển động. 

Nhận xét này được đúc kết từ ba nguồn: việc sử dụng chữ in nghiêng trên bìa sách; đánh giá về hàm ý kiểu chữ; và các đo lường hiệu quả hoạt động trong lúc thực hiện phân loại ngữ nghĩa các từ có phông in nghiêng và không in nghiêng.



BA YẾU TỐ NGUY CƠ ĐI ĐÔI VỚI VIỆC GẶP ÁC MỘNG

Yếu tố có thể gây ra ác mông
Một nghiên cứu mới cho thấy, thái độ tiêu cực với bản thân, kiệt sức và mất ngủ là ba yếu tố nguy cơ lớn nhất dẫn đến việc thường xuyên gặp phải ác mộng.
Nghiên cứu này cũng phát hiện 3,9% dân số thường có triệu chứng này.
TS Nils Sandman thuộc Trung tâm Khoa học Thần kinh Nhận thức, ĐH Turku - Phần Lan, người đứng đầu nghiên cứu cho biết:
“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa ác mộng và mức độ khỏe mạnh thể lý – tinh thần.
Nó xuất hiện rõ nhất trong tương quan giữa ác mộng và trầm cảm, đồng thời có mặt trong nhiều phân tích khác có liên quan đến ác mộng cùng những câu hỏi về việc đo lường sức khỏe và mức độ hài lòng cuộc sống.”
Kết luận trên được đúc kết từ khảo sát bao gồm 13922 người trưởng thành ở Phần Lan từ năm 2007 đến năm 2012 (Sandman et al., 2015).

Những người tham gia hoàn thành một bảng hỏi về sức khỏe và được hỏi về bất kỳ ác mộng nào họ đã gặp trong vòng 30 ngày trở lại.

Có 45% người tham gia cho biết thỉnh thoảng gặp ác mộng trong khi hơn một nửa lại trả lời không hề có ác mộng trong vòng 30 ngày gần nhất.

So với đàn ông (2,9%), ác mộng xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ (4,8%).

Trong số những người có triệu chứng trầm cảm nặng, 28,4% thường xuyên gặp ác mộng.

Triệu chứng trầm cảm thường đi đôi với tần suất ác mộng nhiều nhất là “thái độ tiêu cực đối với bản thân”>

Đối với những người mất ngủ, khoảng 17,1% cho biết gặp ác mộng thường xuyên.

Những khảo sát dạng này không cho chúng ta biết được liệu trầm cảm có gây ra ác mộng hay không, tuy nhiên, các kết quả vẫn rất đáng quan tâm.

TS Sandman chia sẻ:
“Có thể ác mộng hoạt động như một chỉ báo khởi phát trầm cảm và nó có khả năng mang giá trị chẩn đoán mà trước đây ta chưa lưu ý.
Bên cạnh đó, do ác mộng, mất ngủ và trầm cảm hay đi chung với nhau, vậy liệu ta có thể điều trị cả 3 vấn đề trên chỉ với một can thiệp trực tiếp với ác mộng được hay không?”


CHẠY BỘ BAO NHIÊU MỘT NGÀY LÀ VỪA ĐỦ?

Chạy bộ như thế nào là đủ?

Nghiên cứu mới cho thấy chạy bộ nhiều hơn 2,4 giờ mỗi tuần có liên hệ với mức tử vong tương đương với những người có lối sống ít vận động – không bao giờ chạy bộ.

Kết luận trên đến từ nghiên cứu thực hiện với 5048 người khỏe mạnh tại Đan Mạch được đăng tải trên Journal of the American College of Cardiology (Schnohr et al., 2015).

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi 1098 người hay chạy bộ khỏe mạnh cùng với 413 người không có bệnh tật nhưng lại ít hoạt động trong suốt 12 năm.

Các kết quả cho thấy những người chạy bộ quá nhiều thường có tỉ lệ tử vong tương đương với những người không chạy bộ chút nào.

Trong khi đó, tỉ lệ tử vong thấp nhất là những người chạy bộ với tần suất thấp, khoảng 1-2,4 giờ mỗi tuần.

Tốc độ chạy bộ có tương quan với tỉ lệ tử vong thấp nhất là chậm hay vừa phải. Bên cạnh đó, số lần chạy bộ tối ưu mỗi tuần là 3 – vào khoảng 20 đến 48 phút mỗi lần.

Dù được phân loại thành “những người chạy bộ tần suất thấp” nhưng lượng vận động họ thực hiện là khá lớn, TS Oeter Schnohr, người đứng đầu nghiên cứu, giải thích:

“Cần nhấn mạnh rằng tốc độ chạy của những người chạy bộ ‘chậm’ tương đương với cường độ luyện tập cao, trong khi việc chạy bộ quá nhiều sẽ tương ứng với cường độ luyện tập rất cao.
Khi luyện tập như vậy trong suốt cả thập kỷ, mức độ hoạt động trên có thể đưa đến nhiều nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là với hệ tim mạch.”

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy luyện tập quá mức có thể gây hại cho cơ thể.
TS Schnohr cho biết:

“Mối liên hệ giữa chạy bộ và tỉ lệ tử vong cho thấy có tồn tại một giới hạn mức độ luyện tập tối ưu cho sức khỏe.
Nếu mục tiêu của bạn là làm giảm nguy cơ tử vong và nâng cao tuổi thọ, chạy bộ một vài lần mỗi tuần với tốc độ vừa phải sẽ là một chiến lược hợp lý.
Bất kỳ điều gì nhiều hơn thế không chỉ là dư thừa mà còn có thể là nguy hại.”




TÁC HẠI CỦA VIỆC BỊ CHÈN ÉP NƠI CÔNG SỞ

Chèn ép, bắt nạt nơi công sở

Một nghiên cứu mới vừa cho thấy việc bắt nạt nơi công sở thường sẽ trở thành một vòng tròn luẩn quẩn, khi nạn nhân càng bị stress và lo âu thì họ càng dễ trở nên mục tiêu để các đồng nghiệp chèn ép.

Nhiều năm trời nghiên cứu về hiện tượng “bắt nạt nơi công sở” cho thấy nó có thể gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng đối với nạn nhân, trải dài từ trầm cảm cho tới kiệt sức nghề nghiệp.

Bên cạnh việc làm tổn hại đến sức khỏe và hiệu suất công việc, các nhà khoa học tâm lý Alfredo Rodríguez-Muñoz (ĐH Complutense Madrid), Bernardo Moreno-Jiménez (ĐH Autonoma Madrid), và Ana Isabel Sanz-Vergel (ĐH East Anglia) nhận ra căng thẳng và lo âu do việc chèn ép gây ra còn có thể mài mòn nhân viên, khiến họ trở nên dễ tổn thương hơn trước những hành động gây khó dễ trong tương lai.

Sanz-Vergel cho biết, “Chúng tôi nhận thấy việc bị bắt nạt nơi công sở có thể dẫn đến việc sụt giảm sức khỏe tinh thần và hạnh phúc,” “Đồng thời, việc thể hiện các hành vi lo âu có thể đẩy nạn nhân vào vị trí yếm thế, khiến họ trở thành mục tiêu ‘ưa thích’ – kéo theo một loạt các hành động lạm dụng khác.”

Các nhà nghiên cứu đặt giả thuyết rằng chính sự căng thẳng do việc phải đối đầu với tình trạng bị chèn ép đã khiến cho người lao động trở nên kiệt sức về mặt tinh thần, điều này khiến họ khó có khả năng đứng lên chống lại sự lạm dụng. Cùng cơ chế đó, căng thẳng về tâm lý có thể kéo theo hiệu suất công việc kém, chính điều này sẽ làm giảm sự hỗ trợ, giúp đỡ từ đồng nghiệp và cấp trên.

Khi tình trạng trở nên tệ đi, những nhân viên là mục tiêu của sự chèn ép thường phát triển cách nhìn tiêu cực về nơi làm việc, đưa đến hệ quả là sự căng thẳng và tình trạng chán chường với công việc.

Trong nghiên cứu trên, các nhà tâm lý đã phỏng vấn qua điện thoại 350 nhân viên toàn thời gian về những trải nghiệm của họ với tình trạng chèn ép nơi công sở cùng với những triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Các nghiệm thể được hỏi về mức độ họ trải nghiệm những hành vi tiêu cực cụ thể gây ra sự cách ly và chèn ép tại nơi làm việc (ví dụ như việc bàn tán hay cố tình che giấu thông tin) trong vòng 6 tháng qua.

Để lượng giá lo âu và trầm cảm, những người tham gia được yêu cầu trả lời tần suất họ cảm thấy các triệu chứng về lo âu hay trầm cảm (ví dụ, “Tôi có các suy nghĩ lo âu” hay “Tôi cảm thấy như thể mình đang bị kéo chậm lại”)

Sau sáu tháng, các nhà nghiên cứu tiếp tục theo dõi cùng nhóm nhân viên trên. Đúng như kỳ vọng, họ tìm ra rằng các nạn nhân của việc bị chèn ép tăng mức độ triệu chứng lo âu và có thái độ bi quan hơn đối với công việc so với khảo sát ban đầu.

Tuy nhiên, việc bị chèn ép không giúp dự đoán việc cuối cùng liệu nghiệm thể có những triệu chứng trầm cảm hay không. Các nhà nghiên cứu cho rằng cần nhiều hơn 6 tháng để các triệu chứng trầm cảm phát triển, bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cho thấy các triệu chứng lo âu thường sẽ kéo theo khởi phát trầm cảm.

Các nhà tâm lý viết Anxiety, Stress, & Coping: An International Journal rằng, “Vì vậy, trong trường hợp chèn ép tại nơi làm việc, có thể có tồn tại một vòng xoáy tiêu cực. Trong đó, việc bắt nạt sẽ làm giảm sức khỏe tinh thần và hạnh phúc. Kế đến, hệ quả trên sẽ khiến cho tình trạng hay nhận thức về hoàn cảnh công việc của người bị hại trở nên tệ hơn trước.”

Các tổ chức không chỉ cần tiến hành các biện pháp đảm bảo phòng tránh sự chèn ép mà còn cần tạp trung cung cấp các nguồn lực giúp người lao động phát triển các kỹ năng đối phó với hiện tượng trên.

Các tác giả kết luận, “Các chiến lược can thiệp tập trung vào việc xây dựng nguồn lực cho nhân viên như sự tin tưởng vào khả năng bản thân hay những hỗ trợ xã hội cũng có thể giúp giảm thiểu những nhận thức ‘nạn nhân hóa’ của người lao động về tình trạng chèn ép nơi công sở.”

Tài liệu tham khảo
Rodríguez-Muñoz, A., Moreno-Jiménez, B., & Sanz-Vergel, A. I. (2015). Reciprocal relations between workplace bullying, anxiety and vigor: a two-wave longitudinal study. Anxiety, Stress & Coping: An International Journal, 1-31. DOI:10.1080/10615806.2015.1016003



ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CÓ KHIẾN CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI LƯỜI SUY NGHĨ?

Tác hại khi phụ thuộc smartphone
Keith Wagstaff 15/03/2015
Số điện thoại? Đường đi? Ai là diễn viên chính trong bộ phim mới nhất? Đó là một trong những thứ chúng ta tìm kiếm bằng điện thoại của mình?
Vậy liệu chúng có khiến chúng ta trở nên lười biếng hay không? Chúng ta có trở thành những “cục đất”, giao phó tất cả những tư duy của bản thân cho chiếc điện thoại hay không?

Câu hỏi này không thể được trả lời chỉ trong một sớm một chiều. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của ĐH Waterloo, Canada, cho rằng có mối liên hệ giữa điện thoại thông minh và việc không suy nghĩ thấu đáo để tìm cách giải quyết vấn đề.

Đồng tác giả nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tâm lý học tại ĐH Waterloo, Gordon Pennycook, cho biết, "Có những vấn đề mà chúng ta không thể tìm thấy câu trả lời trên Google,” “Vấn đề của việc phụ thuộc quá nhiều vào Internet là bạn không biết rằng bạn chỉ có câu trả lời chính xác khi bạn suy nghĩ phân tích và logic về vấn đề đó.”

Rõ ràng hơn, nghiên cứu không nói rằng smartphone khiến con người trở thành những chủ thể lười suy nghĩ nhưng các kết quả cho thấy những người “suy nghĩ trực giác” – tức là hành động theo trực giác thay vì phân tích vấn đề - thường sẽ dựa dẫm vào điện thoại nhiều hơn.

Theo Pennycook, những người có trí thông minh cao thường phân tích và giải quyết vấn đề một cách logic, họ cũng thường xem xét rất kỹ suy nghĩ cuả bản thân. Pennycook cùng đồng tác giả Nathaniel Barr đẽ thực hiện trắc nghiệm trên 660 nghiệm thể. Những người được đánh giá ít thông minh hơn thường cho biết họ tìm kiếm thông tin trên smartphone thường xuyên hơn.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu này chỉ là bước đi đầu tiên. Họ chỉ muốn tìm kiếm một số mối tương quan để từ đó thực hiện những nghiên cứu tiếp theo về cách thức smartphone tác động đến não bộ.

Eric Kandel, người từng đoạt giải Nobel và là nhà tâm thần thần kinh thuộc ĐH Columbia, cho rằng còn quá sớm để kết luận liệu việc lệ thuộc vào smartphone có ảnh hưởng đến khả năng tư duy phản biện hay không.

Ông cho biết “[smartphone] có thể có khả năng tạo điều kiện cho việc hoạt động đa tác vụ và giúp mở rộng phạm vi tiếp cận kiến thức của chúng ta,” nhưng nó cũng “đe dọa trí nhớ dài hạn và khả năng lưu trữ thông tin lâu dài của chúng ta.”

Ông cho biết, “Chúng ta cần thêm nhiều bằng chứng thực nghiệm để xác nhận hay phủ quyết những cảm tưởng trên.”

Smartphone hiện nay thông dụng đến độ khó có thể tưởng tượng rằng iPhone chỉ mới xuất hiện cách đây chưa đầy một thập kỷ. Trong khi đó, World Wide Web mới chỉ ra đời được 25 năm.

"Sẽ có thể rất nguy hại nếu chúng ta trở nên phụ thuộc quá mức vào các nguồn thông tin bên ngoài thay vì tự mình học tập hay tư duy phản biện,” Barr cho biết. “Tuy nhiên vì smartphone còn quá mới mẻ nên chúng ta đơn giản vẫn chưa biết được tường tận.”

Vào năm 2009, nhà nghiên cứu Clifford Nass thuộc ĐH Stanford đã phát hiện việc những người làm việc đa tác vụ (những người cho biết bản thân có thể thực hiện nhiều việc cùng một lúc như gửi mail, lướt web, xem TV) thường gặp khó khăn trong việc tập trung vào một nhiệm vụ đơn lẻ. Kì lạ hơn nữa, họ cũng rất tệ trong việc chuyển đổi nhiệm vụ, điều này có nghĩa là làm việc đa tác vụ sẽ khiến họ làm việc đa tác vụ tệ hơn.

Nass qua đời vào năm 2013 nhưng nghiên cứu của ông vẫn được tiếp tục. Nó được rất nhiều người trích dẫn như là một dấu hiệu cho thấy việc thường xuyên tham gia một hoạt động rồi bị phân tâm qua hoạt động khác chưa hẳn là một điều tích cực.
Một trong số đó là Nicholas Carr, tác giả của một số đầu sách về cách thức Internet thay đổi lối tư duy của chúng ta.

Carr cho biết "Với smartphone, chúng ta đã tạo ra một môi trường thường xuyên gây phân tán và gián đoạn,” “Chỉ khi nào chúng ta chú ý, khi chúng ta có thể tập trung vào một luận điểm hay dòng suy nghĩ thì chúng ta mới chạm đến được hình thức tư duy sâu sắc nhất.” “Tư duy khái niệm, tư duy phản biện – những thứ này không thể xảy ra nếu bạn liên tục bị chia trí.”

Ông chia sẻ, vấn đề là chúng ta tiến hóa để không ngừng tìm kiếm thông tin mới, nó rất hữu dụng trong việc đánh giá mối đe dọa và tìm kiếm lương thực trong thời kỳ nguyên thủy. Não bộ sẽ tưởng thưởng cho những phát hiện mới bằng dopamine. Ngày nay, với Yelp, Facebook hay Google, chúng ta đã có thể thỏa mãn không ngừng khao khát trên.

Vậy nó có phải hoàn toàn là tiêu cực không? Smartphone có thể khiến cuộc sống trở nên tiện lợi hơn và tác động tích cực đến não bộ theo những cách mà chúng ta có thể chưa nghiên cứu được. Có thể một số cách sử dụng internet sẽ khiến chúng ta thông minh hơn nhưng một số cách khác sẽ mang đến hệ quả trái ngược. Trên phương diện xã hội, Pennycook cho rằng chúng ta cần phải đặt câu hỏi “Những lĩnh vực nào chúng ta cần phải bảo toàn khả năng tư duy nội tâm thay vì phụ thuộc vào nguồn bên ngoài?”

Còn trên cấp độ cá nhân, rõ ràng là có lý do để một số người tìm đến những khu vực cấm sử dụng martphone và laptop, hay tải những ứng dụng giúp cắt đứt internet.

Carr cho biết, "Có thể có một số người, vì chưa suy nghĩ kỹ càng, nên cho rằng những điều trên không quan trọng,” “Cá nhân mình, tôi nghĩ rằng sẽ có gì đó mất đi nếu chúng ta liên tục bị gây phân tán.”



HAI YẾU TỐ GÂY TRỞ NGẠI CHO QUAN HỆ TÌNH CẢM


Một nghiên cứu mới vừa cho thấy việc kì vọng người mình yêu “đọc” được suy nghĩ của chúng ta trước những hành động họ gây ra; hay khi chúng ta rút lui khỏi những xung đột, việc mất nối kết có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ hai bên.

TS Keith Sanford, phó giáo sư tâm lý học và khoa học hành vi tại Trường Khoa học và Nghệ thuật, ĐH Baylor, cho biết, dù rút lui hay cố gắng đọc suy nghĩ là những dạng “xoa dịu” thường thấy trong các mối quan hệ, chúng lại có thể rất nguy hiểm theo nhiều cách thức và lý do khác nhau.
Sanford chia se, “Rút lui có thể là vấn đề lớn nhất trong các mối quan hệ,” “Nó là chiến lược phòng thủ chúng ta sử dụng khi cảm thấy mình bị tấn công, đồng thời có tương quan trực tiếp giữa việc rút lui và mức hài lòng trung bình thấp về mối quan hệ.”
Trong khi đó, “yên lặng thụ động”, khái niệm về việc kì vọng người kia có thể đọc được suy nghĩ của bạn, lại là chiến lược được huy động khi bạn cảm thấy lo lắng trong một mối quan hệ, nó khiến cho hai người gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển phương hướng giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, nó có vẻ không nguy hiểm bằng việc rút lui, ông cho biết.
Nghiên cứu do Sanford và cộng sự thực hiện được xuất bản trên tạp chí Psychological Assessment. Theo Sanford, việc rút lui chưa chắc có ảnh hưởng tới khả năng dàn xếp xung đột nhưng việc hi vọng người kia đọc được suy nghĩ của mình lại có tác động trực tiếp tới khả năng giải quyết vấn đề của hai bên.
Các nhà khoa học đã thực hiện 3 nghiên cứu. Trong nghiên cứu đầu tiên, 2588 cặp vợ chồng hay những người sống chung với nhau thực hiện một bảng khảo sát. Họ mô tả một xung đột đơn lẻ cụ thể; đánh giá mức độ bản thân sử dụng rút lui hay yên lặng thụ động; và cuối cùng hoàn thành một thang đo mức độ hài lòng về mối quan hệ.
Trong nghiên cứu thứ hai, 233 người trưởng thành đã cam kết vào các mối quan hệ lãng mạn thực hiện một trắc nghiệm đo lượng mức độ rút lui, kì vọng đọc suy nghĩ, gắn bó, lo lắng, cảm xúc, hài lòng với mối quan hệ, và giao tiếp.
Trong nghiên cứu thứ ba, 135 sinh viên có các mối quan hệ lãng mạn được yêu cầu viết về một tình huống xung đột, sau đó họ sẽ trả lời những câu hỏi về việc cắt đứt trao đổi, về giao tiếp và cảm xúc khi xảy ra mâu thuẫn.
Việc rút lui khi một trong hai người chỉ trích hay than phiền là hành động né tránh khi người còn lại nhận diện một mối đe dọa, đồng thời “nó mang đặc điểm của ‘sự không hạnh phúc’ nhiều hơn. Ai cũng có thể vướng phải điều trên lúc này hay lúc khác, nhưng nó xuất hiện nhiều hơn trong những mối quan hệ căng thẳng,” Sanford chia sẻ.
Nghiên cứu cho thấy cá nhân thường rút lui khi họ chán nản hay trở nên vô cảm. Sanford nói, “Lúc đó họ sẽ có mong muốn duy trì sự tự chủ, quyền kiểm soát và khoảng cách.”
Trong khi đó, những người kỳ vọng người kia phải biết được sai lầm gì đang diễn ra mà không cần chia sẻ thì thường cảm thấy lo âu, hắt hủi hơn là đe dọa.
“Bạn có thể lo lắng về việc người kia thương bạn đến mức nào, và điều đó gắn với cảm giác bị bỏ rơi. Bạn sẽ cảm thấy buồn bã, đau đớn và bị tổn thương,” Sanford cho biết.
Những mâu thuẫn mà nếu một phía trông đợi phía còn lại đọc được tư tưởng của mình thường có xu hướng trở thành giao tiếp tiêu cực và giận dữ, nó cũng có thể dẫn đến một vòng xoáy không có lối ra.
Sanford bình luận, “Thông thường, trong một cặp sẽ có một người rút lui và người còn lại sẽ đòi hỏi. Một người càng đòi hỏi và than phiền bao nhiêu thì người còn lại sẽ rút lui nhiều bấy nhiêu, và chúng cứ tiếp tục như thế.”
“Đây là vấn đề vừa về việc nhận ra khi nào các hành vi trên diễn ra và tìm kiếm một giải pháp thay thế - giải pháp mang tính xây dựng và lịch sự hơn để giải quyết xung đột,” “Tuy nhiên, nói vẫn dễ hơn là làm.”


 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google

Join us on Facebook

Please wait..5 SecondsCancel