chiêu thức bán hàng hiện đại

chiêu thức bán hàng

chia sẻ

NHÌN NHẬN NGƯỜI KHÁC THÙ ĐỊCH SẼ LÀM TĂNG TÍNH GÂY HẤN NƠI TRẺ

Tại sao trẻ gây hấn, khó chịu?

DUKE UNIVERSITY 14/7/2015
Một nghiên cứu mới của ĐH Duke cho thấy việc trẻ theo dõi sát sao những dấu hiệu thù địch từ người khác sẽ kích hoạt những hành vi gây hấn ở chính trẻ.
Nghiên cứu chiều dài được thực hiện trong vòng 4 năm trên 1299 trẻ và cha mẹ, dàn trải trên 12 nhóm văn hóa khác nhau thuộc 9 quốc gia trên toàn thế giới.
Theo nghiên cứu, kết quả trên xuất hiện trong một số nền văn hóa nhiều hơn số còn lại, điều này giúp lý giải lý do vì sao trẻ trong một số nền văn hóa lại có nhiều hành vi gây hấn hơn những trẻ trong các nền văn hóa khác.
Nghiên cứu được công bố trực tuyến trên Proceedings of the National Academy of Sciences không chỉ đem lại những gợi ý để giải quyết những vấn đề hành vi gây hấn cá nhân mà còn giúp làm sáng tỏ những xung đột liên văn hóa quy mô lớn kéo dài như xung đột giữa Israel-Arab hay đụng độ sắc tộc tại Hoa Kỳ.

Kenneth A. Dodge, giám đốc Trung tâm Chính sách Trẻ em và Gia đình tại ĐH Duke và là chủ nhiệm nghiên cứu, cho biết “Nghiên cứu của chúng tôi xác định một tiến trình tâm lý quan trọng dẫn trẻ em đến co đường bạo lực.”

“Khi trẻ cho rằng mình đang bị đe dọa bởi một người nào đó và quy gán rằng họ đang hành động với ý định thù địch, trẻ sẽ thường phản ứng lại một cách gây hấn. Kết quả cho thấy mô hình trên xuất hiện trên tất cả các nghiệm thể thuộc 12 nhóm văn hóa được nghiên cứu trên toàn cầu.”
Dodge cho biết thêm, “Nghiên cứu cũng cho thấy có những khác biệt giữa các nền văn hóa trong xu hướng xã hội hóa trẻ trở nên phòng thủ theo phương thức này, những khác biệt trên có thể cho chúng ta biết vì sao trong một số nền văn hóa, trẻ lại hành xử mang tính gây hấn nhiều hơn các nền văn hóa khác. Kết quả cho thấy việc cần thiết thay đổi cách chúng ta xã hội hóa trẻ, giúp các em trở nên tử tế, khoan dung và ít phòng vệ hơn. Điều này sẽ giúp trẻ giảm gây hấn và giúp xã hội bình yên hơn.”
Các nghiệm thể đến từ Jinan, Trung Quốc; Medellin, Colombia; Naples, Ý; Rome, Ý; Zarqa, Jordan; bộ tộc Luo Kisumu, Kenya; Manilla, Philippines; Trollhattan/Vanersborg, Thụy Điển; Chiang Mai, Thái Lan; và Durham, Mỹ (trong đó bao gồm cộng đồng người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Âu và người nói tiếng Tây Ban Nha). Các trẻ bắt đầu tham gia nghiên cứu vào lúc 8 tuổi.
Các nhà nghiên cứu đã đo lường mức độ hành vi gây hấn của trẻ bằng cách thu thập những quan sát giữa mẹ và con. Trẻ cũng được yêu cầu trả lời lại các tình huống giả định trong đó có người sẽ có những hành động thù địch với trẻ - ví dụ, một người đầm sầm vào trẻ từ đằng sau hay khiến trẻ giẫm chân vào một vũng nước.
Dựa vào những câu trả lời của trẻ, các nhà nghiên cứu sẽ đánh giá xem trẻ có diễn dịch những hành động không rõ ràng thành thù địch và “leo thang” xung đột thành gây hấn hay không. Một số trẻ trong từng nền văn hóa sẽ đi theo một xu hướng được gọi là “thành kiến quy gán thù địch.”
Kết quả trong tất cả các nền văn hòa cho thấy nếu trẻ tin rằng một hành động được bắt nguồn từ một ý định thù địch, trẻ sẽ phản ứng lại mang tính gây hấn nhiều hơn. Thật vậy trung bình, những trẻ nhìn nhận hành vi là thù địch sẽ phản ứng gây hấn nhiều hơn 5 lần so với những trẻ chấp nhận đó là hành vi không thù địch. Những trẻ có thành kiến quy gán thù địch sẽ thường phát triển các hành vi gấn hấn nhanh hơn và các hành vi cũng sẽ nghiêm trọng hơn xuyên suốt 4 năm nghiên cứu.
Quan trọng hơn, các nền văn hóa có mức thành kiến quy gán thù địch cao như Zarqa, Jordan, và Naples, Ý, cũng có tỉ lệ những vấn đề hành vi gây hấn cao. Các nền văn hóa có mức thành kiến thấp như Trollhättan, Thụy Điển và Jinan, Trung Quốc cũng sẽ có mức độ hành vi gây hấn ở trẻ thấp.
Kết quả cho thấy chìa khóa của việc phòng tránh các hành vi gây hấn trong và giữa các nền văn hóa có thể đến từ cách xã hội hóa lối suy nghĩ của trẻ về sự tương tác với người khác.
“Kết quả cho thấy một điểm mới trong Quy tắc Vàng,” Dodge cho biết. “Chúng ta không chỉ cần dạy trẻ đối xử với người khác như những gì trẻ muốn người khác làm cho mình, nhưng còn phải suy nghĩ về người khác như những gì trẻ muốn người khác nghĩ về mình.
Bắng cách dạy trẻ nghĩ tốt về người khác, chúng ta sẽ giúp trẻ bớt gây hấn, lo âu và trở nên giỏi giang hơn khi trưởng thành.”
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/07/kids-expecting-aggression-from-others-become-aggressive-themselves-35814 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/07/tai-sao-tre-gay-han-kho-chiu.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.



BÍ MẬT VỀ SỰ SÁNG TẠO

Làm sao để sáng tạo?

Một nghiên cứu vừa phát hiện rằng bạn càng tư duy ý thức bao nhiêu thì bạn càng ít sáng tạo bấy nhiêu.
Các nhà nghiên cứu đã cho các nghiệm thể chơi trò chơi “Vẽ hình đoán chữ”, trong đó người tham gia cố gắng vẽ hình thể hiện nội dung của một chữ nào đó.
Đồng thời, não bộ nghiệm thể sẽ được quét cộng hưởng từ (MRI) để xem xét mức độ và thời điểm hoạt động của các vùng khác nhau.
Cuối cùng, sẽ có 2 chuyên gia được mời để đánh giá mức độ sáng tạo của nghiệm thể bao gồm: nội dung sáng tạo và mức độ "dễ đoán".
Giáo sư Allan Reiss, tác giả nghiên cứu, giải thích kết quả như sau:
“Chúng tôi phát hiện rằng hoạt động não bộ tại khu vực trung tâm kiểm soát điều hành - vùng não bộ cho phép chúng ta lên kế hoạch, tổ chức và thực thi các hoạt động – tương quan ngược với khả năng thực hiện các công việc sáng tạo.
Sáng tạo là một đặc tính vô cùng giá trị trong cuộc sống con người, dù là trong công việc hay vui chơi.
Sáng tạo là động lực đưa đến những tiến bộ trong nghệ thuật, khoa học hay kinh doanh.
Với vai trò như một nhà tâm thần học thực hành, tôi thậm chí còn nhận thấy sự quan trọng của sự sáng tạo trong mối quan hệ liên cá nhân.
Những người có khả năng tư duy sáng tạo và linh hoạt thường đạt được những kết quả tối ưu.”
Dưới đây là một số hình ảnh mà người tham gia đã vẽ, phía bên trái là những chữ mà nghiệm thể cố gắng mô tả:
Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, không phải vùng trung tâm kiểm soát điều hành mà là vùng tiểu não khi được kích hoạt sẽ khiến chúng ta vẽ các bức hình có tính sáng tạo nhiều hơn. 
Tiểu não là khu vực nằm ở phía sau não bộ giúp điều phối chuyển động.
Trước đây, các nhà khoa học thần kinh thường không liên hệ khu vực não bộ này với sự sáng tạo
Giáo sư Reiss giải thích:
“Có lẽ tiểu não là trung tâm điều phối những vùng còn lại của não bộ, giúp những khu vực khác hoạt động hiệu quả hơn.
Nghiên cứu cũng cho thấy, đôi khi, việc cố gắng gượng ép để sáng tạo có vẻ không phải là phương cách tốt nhất để tối ưu hóa đặc tính này.”
Việc “ép mình nỗ lực” để đạt đến một kết quả “sáng tạo” thường dẫn đến nhiều hoạt động trong những khu vực kiểm soát điều hành, trong khi đó, chúng ta lẽ ra cần giảm thiểu hoạt động trong những khu vực này để đạt được hiệu quả mong đợi.
TS Manish Saggar, tác giả khác của nghiên cứu, kết luận một cách cô đọng:
“Nếu bạn ‘càng nghĩ’ thì bạn sẽ ‘càng rối’ “
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Scientific Reports (Sagger et al., 2015) - click vào link để đọc bài báo đầy đủ.



SỰ SO SÁNH ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA TRẺ

Tác hại của thiên vị con cái

Một nghiên cứu vừa chứng minh niềm tin của cha mẹ vào con cái – và những so sánh mà họ gán ghép lên con mình – sẽ ảnh hưởng tới khả năng học tập và nhiều khía cạnh khác của trẻ.
TS. Alex Jensen, ĐH Brigham Young, chủ nhiệm nghiên cứu cho biết, “Không chỉ cách nuôi dạy mà cả niềm tin của phụ huynh với con cái cũng có thể ảnh hưởng tới tương lai của trẻ.”
Trong nghiên cứu này, Jensen và Susan McHale thuộc ĐH Bang Pennsylvania đã nghiên cứu 388 trẻ vị thành niên là con cả và con thứ cùng cha mẹ của các em tại 17 trường khác nhau trong Bang.
Các nhà nghiên cứu yêu cầu cha mẹ cho biết trong hai anh em, ai là người học giỏi hơn. Mặc dù xét trung bình, kết quả của cả hai nhóm đều như nhau nhưng đa phần các bậc phụ huynh thường lại cho rằng con đầu lòng có khả năng học tập tốt hơn.
Các nhà khoa học đã tìm ra rằng niềm tin của cha mẹ về sự khác biệt này không đến từ điểm số trong quá khứ mà là đến từ kết quả trong tương lai! Chính niềm tin của cha mẹ tác động đến kết quả học tập của trẻ.
Những trẻ mà cha mẹ tin rằng thông minh hơn thường sẽ có kết quả cao hơn trong tương lai. Những trẻ cha mẹ cho rằng không học giỏi bằng thường sẽ học tệ hơn trong những năm kế tiếp. Cụ thể hơn, niềm tin này tạo ra khác biệt đến 0.21/4 (khoảng 0.5 điểm theo thang điểm 10) số điểm trung bình của các trẻ tham gia nghiên cứu.
Jensen chia sẻ, “Nghe thì có vẻ không nhiều nhưng theo thời gian, những tác động nhỏ này có khả năng dẫn đến những khác biệt lớn giữa các anh/em, chị/em.”
Ông cũng lưu ý đến những khó khăn trong việc xác định nguyên nhân của khác biệt này. Khi cả hai trẻ đến tuổi vị thành niên, cha mẹ có thể đã hình thành những niềm tin về mức độ thông minh của hai trẻ thông qua kinh nghiệm quá khứ. Khi cha mẹ so sánh hai trẻ trong tuổi vị thành niên với nhau, nó có thể dựa vào những khác biệt đã tồn tại từ lâu.
“Cha hay mẹ có thể nghĩ rằng trẻ lớn hơn sẽ thông minh hơn vì trong tất cả các thời điểm, trẻ làm anh/chị luôn học những môn học phức tạp, khó khăn hơn trên trường.
Con đầu lòng luôn là trẻ biết đọc trước, biết viết trước và điều đó gieo vào suy nghĩ của phụ huynh rằng các trẻ đó sẽ giỏi giang hơn. Tuy nhiên, khi cả hai trẻ đến tuổi vị thành niên, tư tưởng trên sẽ khiến cả hai trở nên khác biệt nhiều hơn. Cuối cùng, trẻ được xem là kém thông minh hơn sẽ có xu hướng học dở hơn khi so sánh với trẻ còn lại.”
Ngoại lệ duy nhất của nghiên cứu là khi trẻ đầu lòng là con trai và con thứ lại là con gái. Trong trường hợp này, cha mẹ thường tin rằng em gái sẽ học giỏi hơn anh trai.
“Cha mẹ thường xem con lớn hơn học giỏi hơn, nhưng khi xét đến mức độ trung bình, cả hai trẻ đều có kết quả học tập như nhau”, Jensen cho biết. “Như vậy, niềm tin của cha mẹ ở đây là không chính xác. Cha mẹ cũng thường nghĩ rằng con gái sẽ học giỏi hơn con trai, và xét trên điểm số thì điều này xem ra thường có vẻ đúng.
Vậy cha mẹ nên làm gì để tất cả các trẻ đều có thể đạt được thành công?
“Thật sự rất khó để các cha mẹ không để ý hay suy nghĩ đến những khác biệt giữa con cái của mình. Tuy nhiên, để giúp tất cả thành công, cha mẹ nên tập trung vào việc nhận ra những điểm mạnh của mỗi trẻ và cẩn trọng mỗi khi đưa ra những lời nói mang tính so sánh trước mặt trẻ.”
Nghiên cứu được xuất bản trên Journal of Family Psychology.

Wood, J. (2015). Parent’s Beliefs About Children Influences School Performance. Psych Central. Retrieved on July 9, 2015, from http://psychcentral.com/news/2015/06/21/parents-beliefs-about-children-influences-school-performance/85911.html


Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Central (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Central http://psychcentral.com/news/2015/06/21/parents-beliefs-about-children-influences-school-performance/85911.html và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/07/so-sanh-thien-vi-ket-qua-hoc-tap.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Central và thông báo cho người dịch.

VÌ SAO NGỦ KHI LÀM VIỆC LẠI LÀ TỐT?

Giấc ngủ và hiệu quả công việc
ĐH MICHIGAN 30/06/2015

Nghiên cứu mới đây của ĐH Michigan cho thấy một giấc ngủ ngắn có thể có hiệu quả trong việc chống lại các hành vi bốc đồng và giúp nâng cao khả năng chịu đựng.
Theo các nhà nghiên cứu, giấc ngủ ngắn có thể là cách gia tăng an toàn lao động thuận tiện và tiết kiệm. Nói cách khác, nếu quản lý cung cấp chỗ ngủ tại nơi làm việc hay thêm nhiều thời gian nghỉ ngơi, nhân viên cũng sẽ có năng suất cao hơn.
Càng ngày càng có nhiều người, đặc biệt là người trưởng thành, không ngủ đủ giấc vào ban đêm. Điều này có thể ảnh hưởn tiêu cực tới khả năng ghi nhớ và chú ý, đồng thời gia tăng sự mệt mỏi.
Nhóm nghiên cứu ĐH Michigan đã khảo sát cách thức giấc ngủ ngắn tác động lên khả năng kiểm soát cảm xúc của người lao động. 40 nghiệm thể từ 18 đến 50 tuổi được yêu cầu duy trì giấc ngủ đều đặn trong 3 đêm liên tiếp trước khi tham gia thực nghiệm. Sau đó, các nghiệm thể sẽ thực hiện những bài tập trên máy tính và trả lời những câu hỏi về mức độ buồn ngủ, tính khí và sự bốc đồng. Tiếp đến, họ được chỉ định ngẫu nhiên vào nhóm được ngủ 60 phút và nhóm không được ngủ mà thay vào đó, xem một đoạn phim ngắn về thiên nhiên. Các trợ lý nghiên cứu nhận trách nhiệm giám sát các nghiệm thể. Cuối cùng, những người tham gia sẽ thực hiện lại bảng hỏi và các bài tập trước đó.
Kết quả, những người trong nhóm “ngủ” thường đầu tư nhiều thời gian để giải quyết bài tập hơn so với nhóm “không ngủ”, các nghiệm thể trong nhóm thứ hai thường thiếu ý chí kéo dài sự “chịu đựng” để hoàn thành yêu cầu bài tập. Thêm vào đó, những người được ngủ cho biết cảm thấy ít bốc đồng hơn.
Theo Jennifer Goldschmied, tác giả nghiên cứu, kết hợp với những nghiên cứu trước về cá tác hại tiêu cực của việc thiếu ngủ, kết quả từ nghiên cứu này cho thấy việc tỉnh thức trong một thời gian kéo dài có thể làm giảm khả năng kiểm soát các phản ứng cảm xúc tiêu cực.
Goldschmied cho biết, “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, bằng cách nâng cao sự kiên trì theo đuổi các nhiệm vụ khó khăn, giấc ngủ ngắn có thể là can thiệp hiệu quả cho các cá nhân cần phải thức trong một thời gian dài.”

 Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/06/sleeping-on-the-job-actually-thats-a-good-thing-35364 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/07/giac-ngu-khi-lam-viec-ra-sao.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.

1000 LIKE FACEBOOK


Hôm nay bật máy lên, chợt nhận ra Hành Lang Tâm Lý được 1000 like hồi nào chưa kịp biết.

Còn vài ngày nữa là tròn 1 năm Hành Lang Tâm lý xuất hiện, bên cạnh việc gần đây nhiều trang tâm lý khác bắt đầu đăng những bài do Hành Lang Tâm Lý dịch, cột mốc này là món quà vô giá mà Hành Lang Tâm Lý nhận được từ mọi người.

Cảm ơn các bạn đã luôn theo dõi và ủng hộ Hành Lang Tâm Lý, Hành Lang Tâm Lý hứa tròn một năm tuổi sẽ có một món quà nho nhỏ gửi tặng lại các bạn :3

Một lần nữa xin gửi ngàn lời cảm ơn đến mọi người và chúc các bạn tiếp tục sống vui khỏe, hạnh phúc thông qua những điều Hành Lang Tâm Lý mang lại!

Thank you!

THAM GIA NHÓM GIÚP GIẢM NHẸ TRẦM CẢM



Từ lâu chúng ta đã biết kết nối xã hội có vai trò rất quan trọng đối với những người trầm cảm.
Tuy vậy, mới đây, các nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm xã hội thôi là chưa đủ để hỗ trợ những người có trầm cảm. Quan trọng hơn, việc đồng hóa với nhóm –  xác định mình thuộc về một nhóm – mới giúp giảm nhẹ trầm cảm.
Kết luận đến từ nghiên cứu ở Úc trên các thân chủ đang tham gia vào một số nhóm ở địa phương, có nguy cơ và được chẩn đoán mắc trầm cảm (Cruwys et al., 2014).
Một số là nhóm tập yoga, một số khác là nhóm thể thao, nghệ thuật hay thêu may.
Trong một nghiên cứu khác, một nhóm các nghiệm thể tự nguyện đến bệnh viện để tham gia trị liệu nhóm.
Trong cả hai nghiên cứu, dù có thuộc khung cảnh lâm sàng hay không, tất cả các trường hợp đều là những người tham gia vào một nhóm xã hội mới.
Khoảng 3 tháng sau khi tham gia nhóm, các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành đo lường mức độ trầm cảm của các nghiệm thể, đồng thời tìm hiểu mức độ họ đồng nhất với nhóm mà mình tham gia ra sao.
So sánh với ban đầu, kết quả cho thấy những người không gắn kết chặt chẽ với nhóm có 50% khả năng tiếp tục bị trầm cảm.

Mặt khác, những người cảm thấy thuộc về nhóm, những người dùng từ “chúng tôi” thay vì “bọn họ” khi nói về các thành viên khác trong nhóm, chỉ có 1/3 khả năng tiếp tục mắc trầm cảm. Những thân chủ này cảm thấy đồng nhất mạnh mẽ với nhóm mà họ tham gia – dù đó là nhóm trị liệu trong bệnh viện hay là nhóm sở thích, họ cho biết bản thân cảm thấy được hỗ trợ vì đang “tham gia cùng nhau”.

Giáo sư Alexander Haslam, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết:
“Chúng tôi tìm ra bằng chứng rõ ràng rằng việc tham gia nhóm và đồng nhất với nhóm có thể giúp làm thuyên giảm trầm cảm.”
“Kết quả nghiên cứu cho thấy khía cạnh ‘nhóm’ trong tương tác xã hội là rất quan trọng.”

Một trong những đặc điểm của người trầm cảm là họ hay rút lui ra khỏi các mối quan hệ xã hội, tuy nhiên, việc hỗ trợ để thân chủ phục hồi không chỉ dừng lại ở việc giao tiếp với người khác:
“…một nhóm cần có yếu tố về tâm lý để có những tác động tích cực lên trầm cảm – chỉ đơn thuần ‘góp mặt’ mà không cam kết hay tham gia hoạt động có lẽ sẽ không mang lại hiệu quả.”
Các tác giả kết luận rằng nghiên cứu cho thấy
“làm việc với những thách thức từ trầm cảm không chỉ bao gồm việc đưa cá nhân quay lại nhóm mà còn là đưa nhóm đến với cá nhân.”
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Blog (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Blog http://www.spring.org.uk/2014/09/depression-alleviated-by-feeling-connected-to-a-group.phpvà đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/07/tham-gia-nhom-giup-giam-nhe-tram-cam.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Blog và thông báo cho người dịch.



TẠI SAO “NGỨA” THÌ PHẢI “GÃI”?


Nếu bạn ngứa mà được gãi thì cảm giác sẽ rất tuyệt vời – ít nhất là ban đầu. Nhưng sau đó, bạn càng gãi thì người bạn càng ngứa, đó là một vòng tròn luẩn quẩn làm bạn thất vọng nhiều hơn là thỏa mãn.
Các nhà khoa học tại ĐH Y St. Louis, ĐH Washington, vừa tìm ra lời giải thích cho hiện tượng trên. Tất cả đều nằm ở serotonin, một loại chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ.
Ngứa ngáy đi tìm câu trả lời
Đã từng có lúc các nhà khoa học nghĩ rằng ngứa ngáy và đau đớn đều được dẫn truyền theo cùng một đường trong hệ thống thần kinh. Tuy nhiên, mới đây, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các tín hiệu ngứa ngáy lại đi theo một đường hoàn toàn khác. Nó có riêng những tế bào thần kinh và thụ cảm “đặc hiệu” cho việc ngứa ngáy. Hơn thế nữa, đường dẫn truyền của cảm giác đau còn có thể ghi đè lên trên đường dẫn truyền “ngứa”. Điều này giúp lý giải vì sao khi chúng ta sử dụng một lực làm đau nhẹ - hay còn gọi là gãi- lại có thể giúp, ít nhất là tạm thời, đánh tan ngứa ngáy.
Mới đây, một nghiên cứu mới trên tạp chí Neuron đã đưa những phát hiện trên đi thêm một bước. TS Chen và đồng sự tại Trung tâm Nghiên cứu Ngứa thuộc ĐH Washington đã tìm hiểu điều gì sẽ xảy ra sau khi tín hiệu đau do việc gãi được đưa tới não. Dù nghiên cứu chỉ được hiện trên chuột nhưng các nhà khoa học tin rằng tiến trình tương tự cũng sẽ xảy ra ở người.
Ngứa ở chuột và ngứa ở người
Theo các nhà nghiên cứu, khi não tiếp nhận các tín hiệu đau nhẹ do gãi, nó sẽ đáp trả bằng cách tiết ra serotonin. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu tìm ra rằng khi serotonin đi từ não đến tủy sống, nó sẽ “lấn tuyến” bằng cách chuyển từ đường dẫn tín hiệu đau sang đường dẫn tín hiệu ngứa. Khi serotonin phản ứng với các thụ cảm trên tế bào cảm nhận ngứa trong tủy sống, nó có thể làm tăng cảm giác ngứa.
Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã sử dụng một loạt các chú chuột được lai giống đặc biệt để không có các gene tạo serotonin. Khi được tiêm một loại thuốc gây ngứa da, những chú chuột này không gãi nhiều như những chuột khác đồng loại. Nhưng sau đó khi được tiêm serotonin, chúng lại bắt đầu gãi nhiều trở lại như bình thường.
Khi chia sẻ về nghiên cứu, Chen cho biết công trình này một ngày nào đó sẽ hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh nhân mắc các chứng ngứa mãn tính. Chúng ta không thể “cắt” serotonin vì bên cạnh việc chống lại cảm giác đau, nó còn đem lại những lợi ích khác như điều hòa cảm xúc, ăn uống và giấc ngủ. Tuy nhiên, Chen cho rằng chúng ta có thể chặn đứng sự trao đổi giữa serotonin và các tế bào thần kinh trong tủy sống có liên quan đến tín hiệu ngứa.
Ngành khoa học…Gãi
Nhóm nghiên cứu của Chen không phải là những người duy nhất tìm hiểu xây dựng ngành khoa học ngứa ngáy này. Tại Trường ĐH Y Wake Forest, các nhà khoa học đã chụp hình não MRI các tình nguyện viên nhằm nghiên cứu lý do vì sao gãi ngứa thì lại “sướng”. Họ phát hiện rằng đường dẫn truyền cho việc tưởng thưởng trong não có liên hệ đến cả cảm giác thích thú khi gãi lẫn nhẹ nhỏm khi hết ngứa.
Đường dẫn truyền này cũng đóng vai trò quan trọng cảm giác khao khát, hài lòng và thậm chí gây nghiện, tất cả những điều này giúp giải thích vì sao cảm giác thôi thúc phải gãi – và cảm xúc thoải mái ban đầu khi đã gãi- lại mạnh mẽ đến thế. Nó cũng cung cấp những chứng cứ lý giải tại sao gãi một lần lại có vẻ không đủ.   
Các nhà khoa học thừa nhận họ chỉ mới chạm vào bề mặt của phức hợp sinh học thần kinh nằm bên dưới việc ngứa ngáy. Tuy nhiên, những gì họ đã phát hiện vẫn đem lại những cách nhìn khá thú vị về một dạng trải nghiệm mà tất cả chúng ta ai cũng có nhưng không phải ai cũng hiểu.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psychology Today (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psychology Today https://www.psychologytoday.com/blog/minding-the-body/201410/why-we-cant-stop-scratching-itch và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/07/tai-sao-ngua-thi-phai-gai.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psychology Today và thông báo cho người dịch.


 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google

Join us on Facebook

Please wait..5 SecondsCancel